Thứ Hai, 2 tháng 12, 2019

KINH VINH DANH TRONG THÁNH LỄ



KINH VINH DANH TRONG THÁNH L

Nhằm nhấn mạnh đến tính chất thống hối của mùa Chay,  kinh Vinh Danh không được hát trong các Chúa nhật mùa Chay, trừ ra trong dịp lễ trọng hay lễ kính. Như truyền thống đã đi vào nghi lễ Rôma trong Sách lễ tiền Công đồng Vatican II và vẫn giá trị cho đến nay, thánh lễ tiệc ly có hát kinh Vinh Danh để chỉ ra rằng mùa Chay đã kết thúc. Đang khi hát thì rung chuông (chuông [nhỏ] cung thánh và chuông [lớn] trên tháp chuông), sau đó, không rung chuông nữa cho đến kinh Vinh Danh của lễ Vọng Phục Sinh. Đang khi cộng đoàn hát kinh Vinh Danh trong lễ Vọng Phục Sinh, cũng có thể kéo chuông nếu có tục lệ này. Kinh Vinh Danh dĩ nhiên sẽ được hát tiếp trong các Chúa nhật Phục Sinh, các ngày trong tuần bát nhật Phục Sinh và các Chúa nhật thường niên nữa. Để biết thêm về kinh Vinh Danh, bài viết sau sẽ dẫn giải các khía cạnh về lịch sử, ý nghĩa và mục vụ của lời kinh này.


LỊCH SỬ
Kinh Vinh Danh trong thánh lễ - tức bài Gloria in excelsis Deo (Vinh danh thiên chúa trên các tầng trời) - được gọi là “Vinh tụng ca lớn” (= “Lời đại tán tụng”) nhằm phân biệt với “Vinh tụng ca nhỏ” là Kinh Sáng Danh (Gloria Patris).
Kinh Vinh Danh là một trong những bài hát rất cổ xưa của Giáo hội thời kỳ đầu cùng với các Kinh Pros hilarion (Ôi nguồn sáng huy hoàng) và Te Deum (Chúng con chúc tụng Chúa).
Kinh Vinh Danh được tìm thấy trong 3 phiên bản: i] Phiên bản Syria từ phụng vụ của phái Nestorius; ii] Phiên bản Hy Lạp từ sách Hiến chế Tông đồ; iii]  Phiên bản Hy Lạp từ phụng vụ Byzantin của nghi lễ Đông phương. Phiên bản sau cùng có nội dung trùng khớp hầu hết với phiên bản phương Tây.1 Kinh Vinh Danh bấy giờ không được sử dụng trong thánh lễ mà là lời kinh chúc tụng ngợi khen được sử dụng như một bài thánh ca Rạng đông Phục sinh và dần dần thuộc thành phần kết thúc của Kinh Sáng như trong nghi lễ bên phương Đông. Bên Tây phương cũng vậy, chẳng hạn tại các tu viện vùng Ái Nhĩ Lan và Pháp, kinh Vinh Danh hồi đầu không nằm trong thánh lễ.2
Bài ca này xuất hiện sớm nhất vào thế kỷ thứ IV, nhưng chỉ được đưa vào thánh lễ Rôma vào đầu thế kỷ thứ V dưới thời của Đức Lêô Cả (400-461), lúc đó người ta chỉ hát kinh Vinh Danh trong thánh lễ nửa đêm Giáng Sinh vì là bài ca các thiên thần hát tại Bêlem trong đêm Chúa xuống thế làm người (Lc 2,13-14).3 Thật ra trước đó, ĐGH Telesphorus (128- 139?) đã ra lệnh phải hát kinh Vinh Danh trong thánh lễ Giáng Sinh lúc nửa đêm.4

Sau đó, đến đời Đức Giáo Hoàng Synmaque (498-514), kế vị Đức Gelasio, kinh Vinh Danh mới được quyết định cho hát giữa phần kinh Nhập lễ (Introit) và kinh Thương Xót (Kyrie) trong tất cả các thánh lễ Chúa nhật và lễ kính các thánh tuẫn đạo khi do một vị giám mục cử hành.5
Sau cùng kinh Vinh Danh được dành cho cả lễ các thánh giáo hoàng, rồi đến các thánh giám mục.6 Căn cứ vào cuốn Sacramentarium Gregorianum, đặc quyền này của Đức Giám mục tồn tại trong một thời gian khá lâu bởi vì cho đến thế kỷ VII, một linh mục thường chỉ được phép hát kinh Vinh Danh mỗi năm một lần vào lễ Phục Sinh (đêm Canh thức Vượt qua) và trong dịp thụ phong linh mục khi ngài được rước vào nhà thờ họ để cử hành thánh lễ mở tay (theo nghi thức của St. Amand). Dần dần về sau, khoảng cuối thế kỷ XI, kinh Vinh Danh mới trở nên phổ biến và mọi linh mục cũng được quyền bắt hát như Đức Giám mục trong tất cả những ngày lễ Chúa nhật và lễ mừng có tính chất long trọng trừ ra trong mùa Vọng và mùa Chay.7
Kinh Vinh Danh vốn là một trong số vài bài nằm trong cuốn Ordo Missae La-tinh được phổ biến hết sức rộng rãi từ thời Carolingian (751 - ...) ngay cả bên ngoài thánh lễ. Bằng chứng là khi hoàng đế Charlemagne dẫn Đức Lêô III vào trong tòa nhà nghị viện của đế quốc tại Paderborn (năm 799), mọi người đã hát kinh Vinh Danh.8
Tới cuối thế kỷ thứ VIII, kể như nghi thức mở đầu của thánh lễ gồm: ca nhập lễ, làm nổi bật tinh thần ngày lễ; kinh Thương Xót (Kyrie); kinh Vinh Danh (Gloria); và lời nguyện nhập lễ. Theo Jungmann, đến thế kỷ IX, luật chữ đỏ đòi buộc vị giám mục chủ tế phải đối diện với dân chúng trong khi cất tiếng hát kinh Vinh Danh, nghĩa là từ ban đầu kinh Vinh Danh hẳn là được hát bởi toàn thể cộng đồng.9 Giống như kinh Thương xót, từ lúc khởi đầu, kinh Vinh Danh là một bài hát mang tính cộng đồng. Nhưng sau đó, kinh Vinh Danh được người ta thêu dệt thêm bằng những giai điệu âm nhạc hoa mỹ và phức tạp khiến cho nó trở thành bài hát của riêng ca đoàn.
Cấu trúc của nghi thức mở đầu Thánh lễ (= ca nhập lễ + kinh Thương xót (Kyrie) + kinh Vinh Danh (Gloria) + lời Tổng nguyện) đã được Sách lễ Rôma của Đức Phaolô VI (1969/1970) lấy lại từ phụng vụ thế kỷ VIII, tuy nhiên thêm vào đó nghi thức sám hối mặc dầu nghi thức này mãi thế kỷ IX mới có.
Tập tục như chúng ta thấy hiện nay, coi như đã thành hình từ thế kỷ XI, nghĩa là kinh Vinh Danh được hát vào tất cả những Chúa nhật và những ngày lễ kính, lễ trọng, ngoại trừ những ngày thống hối trong toàn Giáo hội Tây phương.10


Ý NGHĨA11
Kinh Vinh Danh là một thánh thi chúc tụng và khẩn nài hướng lên Chúa Cha và Đức Kitô (Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma = QCSL, số 43). Toàn bản văn chia làm 3 phần: i] Đoạn mở đầu; ii] Đoạn hướng về Chúa Cha; iii] Đoạn hướng về Đức Kitô.

A. Đoạn mở đầu: Lời ca thiên thần trong đêm Chúa Giáng Sinh
Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời,/ và bình an dưới thế cho loài người Chúa thương  (cho người thiện tâm).
Lời này được tổng hợp từ nhiều bản văn Thánh Kinh, đặc biệt từ lời ca ngợi do các thiên thần hát lên trong đêm Chúa Giáng Sinh tại Bêlem (x. Lc 2,13-14). Vì vậy, nó còn có tên gọi là Thánh ca Thiên Thần (x. Ga 1,29; Tv 109, 1; Cv 2,34-36).12
Khi thiên thần hát “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời” trong đêm Chúa Giáng Sinh tại Bêlem, chúng ta hiểu ngay rằng đây là những lời nhằm ca tụng vinh quang và lòng nhân hậu của Thiên Chúa Cha - Đấng đang ngự trên trời - chứ không nhắm đến Chúa Giêsu và câu này trở thành như một lời loan báo vui mừng về vòng tay ôm ấp giữa trời và đất. Chính Chúa Cha đã thực hiện ơn cứu chuộc cách tỏ tường qua mầu nhiệm nhập thể và chương trình này, tức “Ca tụng tôn vinh danh Thiên Chúa và ơn cứu rỗi cho nhân loại” chưa “đạt tới” sự trọn vẹn cho đến khi Chúa Giêsu chịu nạn chịu chết trên thập giá làm hy tế dâng lên Chúa Cha; chương trình này vẫn đang hiện thực mỗi khi Hội Thánh quy tụ nhau để cử hành Thánh Thể và cất lên lời ca này.13
Mệnh đề “cho người thiện tâm” là dịch sát theo bản Latinh “homminibus bonae voluntaris” được rút từ bản Vulgata (Lc 2,14) mà bonae voluntaris chỉ được dịch lại từ chữ êuđôkia của nguyên bản Hy Lạp. Trong Thánh Kinh, hai từ êuđôkia và êuđôkêin nói lên đặc ân hay lòng tốt của Thiên Chúa dành cho kẻ được Ngài tuyển chọn. Cho nên anthropôi êuđôkia dịch là những người được Thiên Chúa yêu thương giáng phúc (loài người Chúa thương) thì thích hợp hơn cho “người thiện tâm”, nghĩa là Thiên Chúa không chỉ giới hạn ban bình an cho người có thiện tâm mà cho tất cả những ai đẹp lòng Người. Ở đây cũng có thể hiểu là ơn cứu độ của Chúa không chỉ dành riêng cho nhúm người có thiện tâm hay dành riêng cho người Do Thái, mà cho tất cả mọi người.14 Nói cách khác, bình an chính thức và siêu nhiên không thể do tự thiện tâm con người mà có, nhưng phải nhờ tình thương Thiên Chúa ban tặng.15

B. Đoạn thứ II: Lời tôn vinh Thiên Chúa
Chúng con ca ngợi Chúa, chúng con chúc tụng Chúa (Br 3,6; Tv 145,2),/ chúng con thờ lạy Chúa, chúng con tôn vinh Chúa (Kh 4,11; Rm 11,36; 1Cr 6,20),/ chúng con cảm tạ Chúa vì vinh quang cao cả Chúa (1Bns 16,24; 2Cr 4,15)./ Lạy Chúa là Thiên Chúa, là Vua trên trời (Kh 4,8; Tb 13,7; Dn 4,37),/ là Chúa Cha toàn năng (St 17,1-2; 2Cr 6,18).
Tiếp nối chủ đề lời ca của các thiên thần, đoạn này diễn tả sự nối kết giữa trời và đất trong những lời ngợi khen chúc tụng Thiên Chúa qua 5 động từ tuôn ra một mạch theo thể thức tôn thờ của các thánh thi cổ xưa. Năm động từ này là: ca ngợi; chúc tụng; thờ lạy; tôn vinh; và cảm tạ Chúa được vang lên như những làn sóng đại dương không ngớt trào dâng mà đỉnh cao là “chúng con cảm tạ Chúa vì vinh quang cao cả Chúa”.16 Kiểu tung hô chúc tụng như thế đã tồn tại trong phụng vụ từ rất xa xưa, là một thói tục diễn ra trong buổi phụng tự công cộng dành cho các hoàng đế, nhưng sau đã được tu chỉnh, được “rửa tội” để dùng trong Giáo hội.17
Đoạn này tiếp tục nhấn mạnh đến vinh quang của Thiên Chúa được biểu lộ bằng ngôn từ hay trưng ra một chuỗi danh hiệu: Ngài là Thiên Chúa (Deus), là Vua trên trời (Rex caelestis), đặc biệt Ngài là Cha toàn năng (Pater omnipotens), một cụm từ đã có trong kinh Tin Kính các Tông đồ (Symbolum apostolicum), thường xuất hiện trong các thánh thi cổ cũng như Thánh Thi Te Deum. Vì vậy, loài người phải bày tỏ thái độ “chúc tụng, thờ lạy, tôn vinh và cảm tạ” dành cho Ngài.18

C. Đoạn thứ III: Lời kêu cầu Đức Giêsu
Lạy Con Một Thiên Chúa, Chúa Giêsu Kitô (Ga 1,14. 18),/ Lạy Chúa là Thiên Chúa, là Chiên Thiên Chúa / là Con Ðức Chúa Cha (Kh 1,8; Ga 1,29). Chúa xóa tội trần gian, xin thương xót chúng con (Ga 1,29); Chúa xóa tội trần gian, xin nhậm lời chúng con cầu khẩn (Ga 14,13). Chúa ngự bên hữu Ðức Chúa Cha  (Cl 3,1; Dt 8,1), xin thương xót chúng con. Vì, lạy Chúa Giêsu Kitô, chỉ có Chúa là Ðấng Thánh (Kh 15,4), chỉ có Chúa là Chúa (Is 37,20), chỉ có Chúa là Ðấng Tối Cao (Tv 83,18), cùng Ðức Chúa Thánh Thần ( Rm 8,9; 1Pr 3,8) trong vinh quang Ðức Chúa Cha (Lc 9,26; Ga 1,14; Pl 2,11).
Trước hết, đoạn này quy hướng về Chúa Kitô với những danh hiệu chính của Ngài là: Chủ Tể (Dominus); Thiên Chúa (Deus); Chiên Thiên Chúa (Agnus Dei); Con Chúa Cha (Filius Patris). Nghĩa là Chúa Kitô vừa là Thiên Chúa uy quyền, đồng bản thể với Chúa Cha, vừa là Đấng Cứu Chuộc nhân loại (Chiên hy tế là tước hiệu quy về công trình cứu độ của Đức Kitô). Chính Đức Giêsu, Con Thiên Chúa (Filius Patris) mới là phản ánh trung thực vinh quang của Thiên Chúa Cha tại trần gian (Dt 1,3).19
Bài ca sau đó chuyển sang ca tụng Chúa Giêsu nhưng dưới dạng khẩn cầu với ba lời van nài như trong các kinh cầu, trong đó, Hội Thánh không những nhắc nhớ công trình cứu độ Chúa Kitô đã chết trên thập giá để xóa tội trần gian mà còn nhìn ngắm Ngài đang khải hoàn ngự bên hữu Đức Chúa Cha.
Tiếp đó, Hội Thánh xưng tụng Đức Kitô với ba danh hiệu: Đấng Thánh (Sanctus); Chủ Tể (Dominus); Đấng Tối Cao (Altissimus) vốn đã từng nằm trong các công thức tuyên xưng đức tin thời kỳ đầu Kitô giáo: nghĩa là, các tín hữu không những tuyên xưng thiên tính của Đức Kitô mà còn muốn khẳng định bằng cả mạng sống mình là họ chỉ tôn thờ một mình Người là Đấng Thánh, thuộc về thượng giới, là Kyrios theo tinh thần của 1Cr 8,6 và Pl 2,11; còn các tà thần đều là thọ tạo phàm tục vì thuộc về trần thế. Chỉ có thể hiểu những điểm này khi biết bối cảnh lịch sử ra đời của kinh Vinh Danh: đây là thời kỳ thần dân phải tôn thờ hoàng đế; thời kỳ của những lễ hội huy hoàng với những buổi thờ cúng các thần minh vốn bao gồm cả những cuộc hiến tế công cộng; các Kitô cũng bị lôi kéo và bị ép buộc phải tôn thờ hoàng đế và dâng hương cho các thần minh, nhưng họ đã cương quyết từ chối mà chỉ tuyên xưng và tôn thờ một mình Đức Kitô với danh hiệu Kyrios. Hành động này khiến họ bị nghi ngờ là đe dọa cho an ninh công cộng, là kẻ thù của thần minh và đất nước, nên đã thường xuyên bị bách hại và phải trả giá bằng cả tính mạng của mình.20
Phần cuối, kinh Vinh Danh kết thúc với lời tôn vinh Đức Kitô, Chúa Thánh Thần và Chúa Cha vì cả Ba Ngôi đều chung nhau một vinh quang. Chính vì vậy bài ca này có tên là Gloria (Vinh danh) và bên phụng vụ Đông phương đặt tên là Vinh tụng ca lớn (doxologia major) đối lại với những Vinh tụng ca “ngắn”/ “nhỏ” (Gloria Patris) như kinh “Sáng danh Đức Chúa Cha và...” . Vinh tụng ca kết thúc kinh Vinh danh: “Lạy Chúa Giêsu Kitô, chỉ có Chúa là Ðấng Thánh, chỉ có Chúa là Chúa, chỉ có Chúa là Ðấng Tối Cao, cùng Ðức Chúa Thánh Thần trong vinh quang Ðức Chúa Cha” xem ra cũng gần gần tương tự như Vinh tụng ca trong lễ quy của phụng vụ thánh Gioan Kim Khẩu bởi vì sau khi tư tế cao rao: “Của thánh dành cho dân thánh!” khi ngài đang giơ cao Mình Máu Thánh, ca đoàn sẽ đáp lại rằng: “Lạy Chúa Giêsu Kitô, chỉ có Chúa là Ðấng Thánh, chỉ có Chúa là Chúa, hướng đến vinh quang Ðức Chúa Cha”.21

THỰC HÀNH
Không được thay đổi bản văn của kinh này bằng một bản văn khác (QCSL 53).
Vị tư tế hay, tùy nghi, một ca viên hay ca đoàn xướng lên, rồi mọi người cùng hát chung, hay luân phiên giữa giáo dân và ca đoàn, hay chỉ ca đoàn. Nếu không hát thì phải đọc, hoặc mọi người đọc chung, hoặc chia hai bè đối đáp (QCSL 53).
Dù có thể hát hay đọc kinh Vinh Danh (x. QCSL 53; 126 / Nghi thức Thánh lễ, số 8) nhưng phải cố gắng để bảo đảm kinh Vinh Danh được hát luôn luôn, ngoại trừ vì những lý do mục vụ, bởi đây là một bài thánh ca mang tính lễ hội và là bài thi ca tự bản chất; Cũng đừng bao giờ hát kinh Thương Xót rồi lại chỉ đọc kinh Vinh Danh.22Joseph Gelineau đã nhận định rằng: “Đọc kinh Vinh Danh để rút ngắn thời giờ là một giải pháp lai căng mà công cuộc canh tân đã sửa chữa”.23
Được hát hay đọc trong các Chúa nhật ngoài mùa Vọng và mùa Chay, trong các lễ trọng và lễ kính, và trong các dịp lễ khá long trọng (QCSL 53).
Nên sử dụng bản hát mà mọi người trong cộng đoàn đều thuộc để việc ca hát mang tính cộng đồng và mang lại một nét đặc sắc cho buổi cử hành.
Nhớ cúi đầu khi đọc danh Ba Ngôi Thiên Chúa ở phần cuối và danh thánh Giêsu ở phần giữa của kinh Vinh Danh (x. QCSL 275a).

 Lm. Giuse Phạm Ðình Ái, dòng Thánh Thể, SSS

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2019

10 ĐIỀU BẠN CẦN BIẾT VỀ MÙA VỌNG


10 ĐIU BN CN BIT V MÙA VNG

Hầu hết trong chúng ta có một sự hiểu biết trực quan về Mùa Vọng dựa trên kinh nghiệm, nhưng những văn kiện chính thức của Giáo Hội thực sự nói gì về Mùa Vọng?
Dưới đây là một số câu hỏi cơ bản và những hồi đáp (chính thức!) về Mùa Vọng.
Một số trong đó thật bất ngờ!

1. Mục đích của mùa Vọng là gì?
Mùa Vọng là một mùa trong niên lịch phụng vụ của Giáo Hội – chính xác hơn, thuộc niên lịch của Giáo Hội Latinh, là Giáo Hội lớn nhất hiệp thông với Đức Giáo Hoàng.
Những Giáo Hội Công giáo khác – cũng như nhiều Giáo hội không phải Công giáo — có tổ chức Mùa Vọng nhưng theo cách thức riêng của họ.
Theo những quy luật chung của năm phụng vụ và niên lịch, Mùa Vọng có một đặc tính với hai khía cạnh:
- Là một mùa để chuẩn bị cho Giáng Sinh khi chúng ta tưởng niệm việc Đức Kitô đến lần thứ nhất.
- Như là một Mùa mà việc nhớ lại ấy hướng tâm trí của chúng ta tới sự chờ đợi cho lần trở lại của Đức Kitô trong ngày sau hết.
Do đó, Mùa Vọng là một thời kỳ sốt sắng và mong đợi trong hân hoan. (quy luật 39)
Chúng ta thường nghĩ về Mùa Vọng chỉ như là một mùa chuẩn bị cho Giáng sinh hay tưởng nhớ việc Đức Kitô đến lần thứ nhất, nhưng như những quy luật tổng quát chỉ ra, thật quan trọng để nhắc nhớ rằng Mùa Vọng còn là dịp để chúng ta hướng tới sự trở lại của Đức Kitô. Cho nên, có thể nói Mùa Vọng đưa tâm trí chúng ta hướng về hai lần đến thế gian của Đức Kitô.

2. Những màu phụng vụ nào được sử dụng trong mùa Vọng?
Những ngày đặc biệt và những nghi thức cử hành nào đó có thể có những màu riêng (thí dụ, màu đỏ dành cho lễ kính các thánh tử đạo, màu đen hay trắng vào dịp lễ an táng), nhưng màu thông thường của Mùa Vọng là tím. Hướng dẫn Tổng quát trong sách lễ Roma đưa ra: Màu tím hay đỏ tía được sử dụng trong Mùa Vọng và Mùa Chay. Các màu này cũng có thể được mặc trong những nghi thức và Thánh lễ an táng (346).
Ở nhiều nơi, có một ngoại lệ đáng chú ý cho Chúa Nhật thứ ba Mùa Vọng, được biết tới như là “Chúa Nhật vui” (Gaudete) : Màu hồng có thể được sử dụng trong ngày Chúa Nhật vui và Chúa Nhật thứ ba Mùa Chay (Laetare). (GIRM 346f).

3. Phải chăng Mùa Vọng là mùa thống hối?
Chúng ta thường nghĩ về Mùa Vọng như là mùa thống hối bởi vì màu tím trong phụng vụ, giống như màu của mùa Chay – màu dành cho mùa sám hối.
Tuy nhiên, sự thực là Mùa Vọng không phải là mùa thống hối. Thật ngạc nhiên!
Theo điều khoản của Giáo Luật: số 1250: những ngày và những lần sám hối trong Giáo Hội hoàn vũ là mọi thứ sáu trong cả năm và cả mùa Chay. 
Mặc dầu các đấng bản quyền địa phương có thể thiết lập thêm những ngày sám hối, song, trên đây đã là một danh sách đầy đủ của những ngày và những lần thống hối trong Giáo Hội Latinh cũng như toàn thể Giáo Hội, và Mùa Vọng không phải là một trong số đó.

4. Mùa Vọng bắt đầu và kết thúc khi nào?
Theo những quy luật tổng quát: Mùa Vọng bắt đầu với giờ Kinh Chiều I của Chúa Nhật ngày hoặc gần ngày 30/11 nhất; Mùa Vọng sẽ kết thúc vào trước giờ Kinh Chiều I của lễ Giáng Sinh (số 40).
Chúa Nhật đúng vào hay gần với ngày 30.11 nhất có thể trong khoảng 27.11 – 3.12, tùy theo năm.
Trong trường hợp một Chúa Nhật, giờ Kinh Chiều I được xem như vào Kinh Chiều I trước đó (thứ 7). Theo hướng dẫn tổng quát của các giờ kinh phụng vụ: Được cử hành ngay trước Thánh lễ, giờ Kinh Chiều được gộp vào cùng một cách thức như Kinh Sáng. Giờ Kinh Chiều I của những lễ trọng, các Chúa Nhật hay lễ kính Chúa rơi vào ngày Chúa Nhật có thể không được cử hành cho tới sau Thánh lễ của ngày hôm trước hay thứ bảy.
Điều này có nghĩa rằng, Mùa Vọng bắt đầu vào buổi chiều của thứ 7 giữa 26/11 – 2/12; kết thúc vào chiều ngày 24.12, lúc cử hành Kinh Chiều I lễ Giáng Sinh (25/12).

5. Vai trò của các Chúa Nhật trong Mùa Vọng?
Có 4 Chúa Nhật trong Mùa Vọng. Các quy luật tổng quát tuyên bố: Các Chúa Nhật của mùa này được gọi là Chúa Nhật thứ nhất, thứ Hai, thứ Ba và thứ Tư của Mùa Vọng (số 41)
Chúng ta đã đề cập trước đó về Chúa Nhật thứ ba có tên đặc biệt là Gaudete – từ Latinh có nghĩa là “niềm vui” là từ đầu tiên trong ca nhập lễ của Thánh lễ trong ngày này.
Giáo Hội gán cho các Chúa Nhật này có tầm quan trọng đặc biệt, những ngày ưu tiên hơn tất cả những cử hành phụng vụ khác. Vì thế, các quy luật tổng quát tuyên bố: bởi vì tầm quan trọng đặc biệt của ngày này, cử hành Chúa Nhật chỉ dành cho lễ trọng hay lễ kính Chúa. Các Chúa nhật của Mùa Vọng, Mùa Chay và Phục Sinh được ưu tiên trên tất cả các lễ trọng và lễ kính Chúa. Các dịp lễ trên nếu rơi vào những Chúa Nhật này sẽ được cử hành trong các ngày thứ 7 trước đó (số 5).

6. Những gì diễn ra với các ngày trong tuần?
Các bài giảng dành cho các ngày trong tuần của Mùa Vọng được khuyến khích đặc biệt. Quy luật tổng quát cũng chỉ ra vai trò đặc biệt các ngày trong tuần của tuần lễ trước Giáng sinh: các ngày trong tuần từ 17-24/12 hướng tới việc phục vụ chuẩn bị trực tiếp hơn dành cho sinh nhật của Đức Kitô. (số 41).
Vai trò đặc biệt ấy được minh chứng trong các bài đọc Kinh Thánh được sử dụng trong phụng vụ trong những ngày này.

7. Các nhà thờ được trang hoàng như thế nào trong suốt Mùa Vọng?
Trong suốt Mùa Vọng, việc trang trí hoa cho bàn thờ nên được lưu tâm bởi một sự vừa phải phù hợp với đặc tính của thời kỳ này trong năm, không diễn tả trước niềm vui Chúa Giáng sinh. (x GIRM 313).

8. Âm nhạc được sử dụng như thế nào trong suốt Mùa Vọng?
Trong suốt Mùa Vọng, việc sử dụng đàn organ và những nhạc cụ khác nên được lưu tâm bởi một sự vừa phải phù hợp với đặc tính của thời kỳ này trong năm, không diễn tả trước niềm vui Chúa Giáng sinh. . (x GIRM 313).

9. Kinh Vinh danh có được đọc hay hát trong suốt Mùa Vọng không?
Kinh Vinh danh không được đọc hay hát trong dịp này.

10. Những việc đạo đức riêng nào chúng ta nên thực hiện để trở nên thiết thân với Thiên Chúa hơn trong suốt Mùa Vọng?
Có nhiều việc đạo đức khác nhau mà Giáo Hội đã chấp nhận cho sử dụng trong suốt Mùa Vọng. Phổ biến hơn cả là Vòng hoa mùa Vọng.

Tác giả: Jimmy Akin
Chuyển ngữ: Joseph Trần Ngọc Huynh, S.J.
Nguồn: http://www.ncregister.com/blog/jimmy-akin/10-things-you-need-to-know-about-advent



Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2019

XÉT MÌNH MÙA VỌNG : TỈNH THỨC TRƯỚC NHIỀU LỐI SỐNG NGUY HIỂM



Xét mình Mùa Vọng Tỉnh thức trước nhiếu lối sống nguy hiểm

30 Tháng Mười Một, 2019

Để sống niềm hy vọng vào Thiên Chúa và gieo niềm hy vọng cho mọi người, đòi tôi phải luôn tỉnh thức trước cuộc sống của mình. Khi xét mình trong Mùa Vọng, tôi thấy mình có khi tỉnh mà không thức, có lúc thức mà không tỉnh; hoặc tỉnh thức về những điều này nhưng lại mê muội về những điều kia… Do đó, có thể tôi đang rơi vào nhiều lối sống nguy hiểm:

– Nguy hiểm cơ bản là lối sống không trưởng thành về nhân bản.
– Nguy hiểm đáng sợ là lối sống không trưởng thành về tâm linh.
– Nguy hiểm thường xuyên là lối sống không trưởng thành về tri thức.


I. Nguy hiểm cơ bản là lối sống không trưởng thành về nhân bản

1. Quá chú trọng đến bản thân mình mà ít quan tâm đến tha nhân.
2. Coi trọng việc riêng mà coi nhẹ việc chung.
3. Chỉ làm những điều mình muốn làm mà không làm những điều mình phải làm.
4. Đòi hỏi người khác mà không hề đòi hỏi mình.
5. Góp phần xây dựng thì ít mà chê bai phê phán thì nhiều.
6. Ham quyền hành chức vụ mà không khiêm tốn phục vụ.
7. Phục vụ theo ý mình mà không theo nhu cầu của người khác.
8. Ưa chuộng và quí mến người này nhưng ghét bỏ và khinh thường người kia.
9. Cởi mở và vui vẻ với anh em này nhưng đóng kín và lạnh lùng với anh em khác.
10. Đặt nặng công việc mà coi nhẹ con người. (lấy con người làm phương tiện)
11. Đặt nặng hiệu năng mà coi thường tính cách và ý hướng. (bệnh thành tích)
12. Đòi hỏi có tự do mà không có khả năng sống tự chủ.
13. Khôn nhưng không ngoan, thẳng nhưng không khéo.
14. Phán đoán bên ngoài mà không tìm hiểu bên trong. (nông cạn, hình thức)
15. Đánh giá mình và người khác dựa vào công việc, mà không dựa vào phẩm cách.
16. Biết lỗi mà không nhận lỗi; nhận lỗi mà không sửa lỗi. (cố chấp)
17. Làm theo những gì mình nghĩ, mà không nghĩ về những gì mình làm.
18. Nhiệt thành mà thiếu khôn ngoan. (chủ quan, nhẹ dạ)
19. Ham nghe người khác tâng bốc mà không muốn nghe sự thật. (tự lừa dối mình)
20. Muốn mọi người phải giúp mình nhưng mình chẳng giúp ai. (ích kỷ)


II. Nguy hiểm đáng sợ là lối sống không trưởng thành về tâm linh

1. Đặt nặng hình thức, tổ chức bề ngoài, mà coi thường nội dung và đời sống bên trong.
2. Ưu tiên cho các phương tiện vật chất, còn ơn thánh thì lại chẳng quan tâm.
3. Lao mình vào sự hiếu động ồn ào, còn nội tâm thì lạnh lùng, trống vắng.
4. Đặt nặng việc hưởng thụ, coi thường việc khổ chế.
5. Bám vào những công việc của Chúa, còn chính Chúa thì phớt lờ.
6. Lo được lòng mọi người mà không lo được lòng Chúa.
7. Chuyên chăm việc đời mà lười biếng việc đạo.
8. Phản ứng tự nhiên mà thiếu tinh thần siêu nhiên
9. Lo bồi dưỡng thân xác mà không lo bồi dưỡng tâm hồn.
10. Sống bác ái mà thiếu chân thật, sống chân thật mà thiếu bác ái.
11. Làm việc vì danh thơm tiếng tốt hơn là vì lòng yêu mến.
12. Tìm cách thay đổi mọi người mà không thay đổi chính mình.
13. Lo xây đắp tương lai mà không sống trọn giây phút hiện tại.
14. Muốn thành quả mà không muốn hy sinh.
15. Thực thi bác ái mà lại không sống công bằng.
16. Yêu mến Chúa mà không yêu mến anh em.
17. Theo đuổi ơn gọi mà không sống ơn gọi: lo tiến thân mà không hiến thân.
18. Nỗ lực sống trung thành nhưng lại thiếu trung thực.
19. Cầu nguyện một đàng, sống một nẻo.
20. Nhiều thiện chí mà không có hành động.


III. Nguy hiểm thường xuyên là lối sống không trưởng thành về tri thức

1. Biết nhiều thứ mà không biết mình.
2. Biết thì nhiều mà sống không bao nhiêu.
3. Biết chẳng bao nhiêu mà tự kiêu tự mãn.
4. Trí thức uyên thâm mà lại thiếu đức độ.
5. Chỉ đạt lý mà không thấu tình.
6. Làm việc mà không xem tình hình, không xét hậu quả.
7. Thông minh tài trí nhưng lại sống ích kỷ, hẹp hòi.
8. Học nhiều, đọc nhiều mà thiếu suy tư nghiền ngẫm.
9. Chỉ nghe biết mà không truy tìm, tra cứu, điều nghiên.
10. Nhai lại tư tưởng người khác mà không khai sáng tư tưởng mình.
11. Chỉ dựa vào sách vở và lý thuyết mà không có kinh nghiệm thực tế.
12. Thấy chi tiết mà không thấy tổng quát.
13. Muốn động tay động chân mà không muốn động não.
14. Hiểu biết nhiều nhưng không biết điều chính yếu.
15. Hiểu biết nhiều nhưng không sát, không sâu.
16. Hiểu biết mau nhưng không nguồn, không ngọn.
17. Hiểu biết nhiều mà không biết những điều mình phải biết.
18. Hiểu biết nhiều mà không biết những điều mình không được phép biết.
19. Hiểu biết nhiều mà không biết sống yêu thương.
20. Hiểu biết sâu xa về nhiều thứ nhưng lại hiểu biết cạn cợt về Thiên Chúa.


Những lối sống trên đây luôn nằm trong tình trạng nguy hiểm. Nhưng hiểm nguy lớn nhất là tôi không nhận ra mình đang trong tình trạng nguy hiểm. Sống tỉnh thức là nhận thấy nguy hiểm do sự thiếu quân bình và cân đối trong đời sống mình về mọi mặt. Chỉ một chút quá đà sẽ gây ra hư hại khó lường. Chỉ một chút hụt hẫng sẽ rơi vào cảnh trống vắng nội tâm, dễ bị ma quỷ khống chế và thống trị.

Thật vậy, “Quỷ thấy nhà bỏ trống, lại được quét tước trang hoàng hẳn hoi. Nó liền đi kéo thêm bảy thần khác dữ hơn nó, và chúng vào ở đó. Rốt cuộc tình trạng của người ấy còn tệ hơn trước” (Mt 12,44-45).

Lm. Thái Nguyên

Thứ Năm, 14 tháng 11, 2019

NGHI THỨC GIỜ KINH VIẾNG XÁC ÔNG GIUSE PHAN VĂN LIỆP


NGHI THỨC GIỜ KINH VIẾNG XÁC
ÔNG GIUSE PHAN VĂN LIỆP


...13/11. Gx Thạch An, KP. 2, xã Vĩnh Tân, Vĩnh Cửu, Ðồng Nai. GP Xuân Lộc.  
(Thân Phụ Phan văn Thiêm và cũng là nhạc phụ của Nguyễn văn Thứ K1 VGL Thánh Phaolô)


NHD:
Kính thưa Tang Quyến,
Trong tình hiệp thông, chia sẻ niềm thương tiếc, đau buồn của Tang Quyến, chúng tôi đại diện cho GĐ VGL Thánh Phaolô đến đây xin thành tâm chia buồn cùng Tang Quyến.
Sự ra đi của ÔNG GIUSE thật là một niềm đau xót và mất mát lớn lao cho Tang Quyến và cả cho Cộng Đồng Dân Chúa.
Là con người tự nhiên chúng ta, ai cũng cảm thấy bàng hoàng và sợ hãi trước cái chết. Chúng ta lo sợ vì cảm thấy đằng sau cái chết là một sự bấp bênh, mơ hồ mà chúng ta không thể nắm chắc được. Và trong thân phận con người yếu đuối, mỏng dòn, dù muốn hay không, mỗi người chúng ta ai cũng phải chết.
Dù vậy, với niềm tin của người Kitô hữu, chúng ta tin chắc rằng: chết không chỉ là hậu quả của tội lỗi, nhưng nhờ cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Kitô, cái chết đã trở nên cửa ngõ đưa chúng ta về nhà Cha trên trời. Chết chính là lúc chúng ta được đoàn tụ với Tổ Tiên, Ông Bà Cha Mẹ trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa.
Và trong niềm tín thác vào lòng Thương Xót của Chúa, tin vào Lời Chúa Giêsu đã hứa rằng: “Ai phụng sự Ta, Cha Ta sẽ tôn vinh nó” (Ga 12, 26), cậy nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria, giờ đây, xin Tang Quyến cùng với chúng tôi dâng lên Chúa những lời cầu nguyện cho ÔNG GIUSE thân yêu của chúng ta.

01. NGHI THỨC MỞ ĐẦU

Lm: Nhân danh Cha và Con † và Thánh Thần.
: Amen.
Lm: Chúa ở cùng anh chị em.
: Và ở cùng Cha.
Lm: Anh chị em thân mến,
Giờ đây, chúng ta hãy thành khẩn cầu xin Thiên Chúa là Cha toàn năng, đã làm cho Chúa Giêsu Kitô, Con của Người, từ cõi chết sống lại, ban ơn cứu độ cho kẻ sống cũng như người đã qua đời. Xin Chúa tỏ lòng từ bi, và khoan dung với người anh em của chúng ta là ÔNG GIUSE mới ra đi về với Chúa.
Linh mục rảy nước thánh trên linh cữu.
02. THÁNH CA:
ĐỪNG ĐOÁN PHẠT CON (Tv. 6)
ĐK: Lạy Chúa xin đừng đoán phạt con trong cơn giận Chúa. Xin đừng nghiêm trách con giữa cơn lôi đình. Thương xót con Chúa ơi nay con tàn hơi sức. Xin cứu con Chúa ơi xương cốt con rụng rời. Hồn con nay vô cùng tan nát ôi lạy Gia-vê sao còn trì hoãn đến khi nào.
1. Xin Giavê nhân hiền cứu con khỏi vòng nguy biến. Giữa nơi tối tăm triền miên con ai ngợi khen Chúa vững bền.
2. Con than van u sầu tấm thân mõi mòn thao thức. Mỗi khi bóng đêm dần buông giường con nằm chan chứa lệ sầu.
3. Con ăn năn tội tình mắt nay u mờ tăm tối. Tấm thân héo hon tàn suy ngàn quân thù vây kín quanh mình.

03. THÁNH THƯ (2 Cor 5, 1. 6-10)
Bài trích thơ thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gởi tín hữu Côrintô.
Anh em thân mến, chúng ta biết rằng nếu căn nhà chúng ta cư ngụ ở trần gian này bị phá huỷ đi, thì chúng ta có một nơi định cư vĩnh cửu trên trời do Thiên Chúa thiết lập, chớ không phải do tay người phàm làm ra. Bởi đó chúng ta hằng bạo dạn, vì biết rằng, bao lâu sống trong thân xác này, là chúng ta lưu lạc xa Chúa. Vì chưng nhờ đức tin, chớ không phải vì đã thấy, mà chúng ta tiến bước, chúng ta cũng bạo dạn và ước ao lìa xa thân xác để ở cùng Chúa. Vì thế, dù ở trong xác hay ra khỏi xác, chúng ta hãy cố gắng sống đẹp lòng Chúa. Bởi lẽ tất cả mọi người chúng ta đều phải phơi bày trước tòa án của Đức Kitô, để mỗi người lãnh lấy thành quả đời sống mình, tùy mình đã làm lành hay đã làm dữ.
Đó là lời Chúa.

04. THÁNH CA:
NGÀY VỀ
ÐK: Khi Chúa thương gọi con về, hồn con hân hoan như trong một giấc mơ. Miệng con nức vui tiếng cười, lưỡi con vang lời ca hát. Ngàn dân tung hô: con thật vinh phúc.
1.Khi dân Sion qua khỏi kiếp lưu đày, con vẫn cứ như còn sống hoài giấc mơ triền miên.
2.Hôm nay chư dân loan truyền với nhau rằng: Thiên Chúa rất nhân từ đã làm biết bao kỳ công.
3.Bao nhiêu anh em lưu lạc chốn quê người, xin Chúa dẫn đưa về như giòng nước xuôi miền nam.
4.Gieo trong đau thương sẽ gặt giữa vui mừng, đi khóc lóc u sầu sẽ về giữa muôn lời ca.

05. TIN MỪNG (Ga 12, 23-28)
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh. Quả thật, quả thật, Ta nói với các con: Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình, nhưng nếu nó thối đi, thì nó sinh nhiều bông hạt. Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, và ai ghét sự sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời. Ai phụng sự Ta, hãy theo Ta, và Ta ở đâu, thì kẻ phụng sự Ta cũng sẽ ở đó. Ai phụng sự Ta, Cha Ta sẽ tôn vinh nó. Bây giờ linh hồn Ta xao xuyến, và biết nói gì? Lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ này. Nhưng chính vì thế mà Con đã đến trong giờ này. Lạy Cha, xin hãy làm vinh danh Cha". Lúc đó có tiếng từ trời phán: "Ta đã làm vinh danh Ta, và Ta còn làm vinh danh Ta nữa".
Đó là lời Chúa.
(Có thể dùng mẫu lời nguyện khác tùy theo đối tượng hoàn cảnh)

06. LỜI NGUYỆN CỘNG ĐOÀN
Lm: Anh chị em thân mến, chúng ta hãy thành khẩn cầu xin Thiên Chúa là Cha toàn năng hằng hữu, Đấng đã cho Đức Kitô, Con Chúa chiến thắng tử thần mà về với Chúa, xin Người đoái thương ban ơn cứu độ cho kẻ sống cũng như người đã qua đời.

1.Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho người quá cố là ÔNG GIUSE xưa kia nhờ phép Rửa tội, đã tiếp nhận mầm sống vĩnh cửu, được hợp đoàn cùng các thánh trên chốn đời đời.
Xin Chúa nhậm lời chúng con.

2.Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho người anh em chúng ta đây, đã đón rước Mình Chúa Kitô là bánh hằng sống, được Chúa cho sống lại trong ngày sau hết.

3.Chúng ta hãy cầu xin Chúa tha thứ mọi tội lỗi mà ÔNG GIUSE đã sai phạm vì sự mỏng giòn của loài người, để người anh em này, được xứng đáng hưởng hạnh phúc cùng các thánh trên thiên đàng. Đ.

4.Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho mọi người đang an nghỉ trong niềm hy vọng sống lại, được chiêm ngưỡng ánh sáng tôn nhan Chúa muôn đời.

5.Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho anh chị em chúng ta đang họp nhau nơi đây trong niềm tin, được Chúa cho đoàn tụ trong vinh quang Nước Chúa.

Lm: Lạy Chúa, xin Chúa lấy lòng nhân từ thương đến tôi tớ Chúa đã qua đời, mà tha phạt các hành vi của ÔNG GIUSE. Ước chi ngày sau hết, người tôi tớ Chúa được phục sinh và hưởng phúc thanh nhàn trong nơi đầy ánh sáng. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Đ. Amen.

07. THÁNH CA: TỪ CHỐN TỐI TĂM
ĐK: Maria mẹ ơi! Mẹ đoái nghe lời bao người từ chốn tối tăm vương bao u sầu, vẫn vứng tin trông lên kêu cầu.

1. Đây vực sâu thương đau, bao hồn đang khấn cầu. Mẹ đến cứu đưa về nơi an vui. Trông vì bao công ơn, Con Mẹ xưa giáng trần, chịu chết để xóa tội cho muôn dân.

2. Cam chịu bao thương đau mong đền muôn lỗi lầm. Để Chúa dẫn đưa về nơi Thiên cung. Nhưng nguyện xin Trinh Vương. mau dủ thương chữa bầu để Chúa rút bớt thời gian thương đau.

08. KINH VỰC SÂU

09. KINH TRÔNG CẬY

10. DẤU THÁNH GIÁ - KẾT THÚC

11. NIỆM HƯƠNG VÀ RẢY NƯỚC THÁNH
Mỗi người cầm một cây nhang và cùng giơ lên vái ba lần rồi cắm vào lư hương.
Từng người hoặc vài người đại diện rảy nước thánh trên linh cữu.




Thứ Tư, 13 tháng 11, 2019

NGHI THỨC SÁM HỐI CHUNG VÀ GIẢI TỘI RIÊNG



NGHI THỨC SÁM HỐI CHUNG VÀ GIẢI TỘI RIÊNG

1. NHỮNG LƯU Ý MỤC VỤ CẦN BIẾT TRƯỚC

Giáo Hội khích lệ mỗi giáo xứ hay cộng đoàn tu trì vào các dịp lễ hay mùa phụng vụ đặc biệt, ví dụ bổn mạng giáo xứ, mùa vọng, mùa chay… nên có buổi sám hối chung để chuẩn bị tâm hồn cử hành đại lễ. Các buổi sám hối chung này vừa giúp cho người tín hữu thấy những giới hạn và tội lỗi của con người, vừa nói lên sự liên đới hiệp thông trong một cộng đoàn.

2. NT SÁM HỐI CHUNG VÀ GIẢI TỘI RIÊNG
Mở đầu
Khi mọi người tề tựu đông đảo, cộng đoàn hát một bài ca mở đầu nói lên tâm tình sám hối, sau đó chủ sự bắt đầu như sau:
Chủ sự: Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần
Mọi người: Amen
Chủ sự: Nguyện xin ân sủng, lượng từ bi và phúc bình an của Thiên Chúa Cha và Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc chúng ta, ở cùng anh chị em.
Mọi người: Và ở cùng cha.
Kế đó chủ sự nói vắn tắt mấy lời về buổi cử hành sám hối, sau đó ngaì đọc lời nguyện sau đây:
Chủ sự mời gọi và cầu nguyện:
Anh chị em thân mến, chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa là Đấng kêu mời chúng ta trở về, ban cho chúng ta ơn sám hối thật sự và hữu hiệu. (thinh lặng giây lát)
Lạy Chúa, chúng con nài xin Chúa nhậm lời chúng con cầu khẩn, và tha thứ các tội lỗi chúng con thú nhận cùng Chúa, để chúng con được Chúa thương ban ơn tha thứ và bình an. Nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.
Mọi người: Amen.

Phụng vụ Lời Chúa
Bài đọc I (Is 55,6-9) – hoặc một bài khác phù hợp
Bài trích sác Tiên tri Isaia
Hãy tìm Chúa khi còn tìm được, hãy kêu cầu Người còn ở gần. Kẻ gian ác hãy bỏ đường lối mình, và kẻ bất lương hãy bỏ những tư tưởng mình, hãy trở về với Chúa, thì Người sẽ thương xót, hãy trở về với Thiên Chúa chúng ta, vì Chúa rộng lòng tha thứ. Vì tư tưởng Ta không phải là tư tưởng các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của ta, Chúa phán như vậy. Như trời cao hơn đất thế nào, thì đường lối Ta vượt trên đường lối các ngươi, và tư tưởng Ta cũng vượt trên tư tưởng các ngươi thế ấy.
Đó là lời Chúa.

Đáp ca (Tv 50,3-4,5-6a, 12-13,14.17)
1. Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng nhân hậu Chúa, xoá tội con theo lượng cả đức từ bi. Xin rửa con tuyệt gốc lỗi lầm, và tẩy con sạch lâng tội ác.
Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng nhân hậu Chúa, vì con đã phạm tội (4 lần).

2. Vì sự lỗi con, chính con đã biết, và tội con ở trước mặt con luôn. Con phạm tội phản nghịch cùng một Chúa.

3. Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con.

4. Xin ban lại cho con niềm vui ơn cứu độ, vời tinh thần quảng đại, Chúa đỡ nâng con. Lạy Chúa xin mở môi con, để miệng con loan truyền lời ca khen.

Bài đọc II (Rm 6,2-4.12-14) - hoặc 1 bài khác phù hợp
Bài trích thơ Thánh Phaolô Tông đồ gởi tín hữu Rôma.
Anh em thân mến, chúng ta là những người đã chết cho tội, làm sao chúng ta còn sống trong tội được nữa? Hay anh em không biết rằng: tất cả chúng ta đã chịu phép rửa trong sự chết của Người, và chúng ta đã cùng chịu mai táng với Người, bởi được thanh tẩy trong sự chết của Người, để như Đức Kitô nhờ vinh hiển của Chúa Cha mà sống lại từ cõi chết thế nào, thì cả chúng ta cũng phải sống đời sống mới như thế. Vì vậy, nguyện cho tội lỗi đừng thống trị trị trong xác hay chết của anh em, khiến anh em phải vâng phục những dục vọng của nó. Anh em cũng đừng dùng các chi thể của anh em làm khí giới của gian tà để phục vụ tội lỗi, nhưng hãy hiến thân cho Thiên Chúa, như những người từ trong cõi chết sống lại, và hãy hiến dâng các chi thể anh em làm khí giới đức công bình để phục vụ Thiên Chúa. Vì chưng, tội lỗi không còn làm bá chủ anh em: bởi anh em không còn ở dưới chế độ lề luật, nhưng dưới chế độ ân sủng.
Đó là lời Chúa.

Câu xướng trước Phúc Âm (Ed 33-11)
Chúa phán: Ta không không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và sống.

Tin Mừng (Lc 24,46-48) – hoặc một bài khác phù hợp
Bài trích Phúc Âm theo Thánh Luca
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Như đã ghi chép là Đức Kitô phải chịu khổ hình và ngày thứ ba từ cõi chết sống lại; rồi phải nhân danh Người mà rao giảng sự thống hối và ăn năn, để lãnh ơn tha tội cho muôn dân bắt đầu từ thành Giêrusalem. Còn các con, các con sẽ làm chứng về những điều ấy”.  Đó là lời Chúa.

Chủ sự gợi ý sám hối:…………………..(chia sẻ)
















NGHI THỨC GIAO HÒA
(mọi người đứng)
Chủ sự mời gọi:
Anh chị em thân mến, chúng ta có Chúa Kitô Đấng Cứu Chuộc là vị Trạng Sư công chính trước toà Chúa Cha. Vậy chúng ta hãy khiêm tốn nài xin Chúa tha tội và tẩy rửa chúng ta sạch mọi điều gian ác.

1. Chúa đã đến để rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó và chữa lành những người nghèo khổ trong tâm hồn.
Lạy Chúa, xin thương xót chúng con.(9 lần)
2. Chúa đã tha thức cho người phụ nữ, vì bà đã yêu mến nhiều.

3. Chúa không đến để kêu gọi những người công chính, nhưng kêu gọi những người tội lỗi.

4. Chúa đã không khước từ tiếp xúc với những người thu thuế và tội lỗi.

5. Chúa đã vác chiên lạc trên vai mà đem về đàn.

6. Chúa đã không kết án người phụ nữ ngoại tình, nhưng cho về bằng an.

7. Chúa đã kêu gọi Giakêu ăn năn hối cải và sống đời sống mới.

8. Chúa đã hứa Thiên Đàng cho người trộm lành ăn năn hối cải.

9. Chúa ngự bên hữu Chúa Cha để chuyển cầu cho chúng con.
Chủ sự mời gọi đọc Kinh Lạy Cha:
Giờ đây, chúng ta cùng nhau dâng lên chúa Cha lời Kinh mà chính Chúa Giêsu truyền dạy, để xin Người tha tội cho chúng ta:
Mọi người: Lạy Cha chúng con ở trên trời….

Chủ sự đọc lời nguyện kết thúc:

Lạy Chúa, Chúa đã ban ơn nâng đỡ sự yếu hèn của chúng con, chúng con nài xin Chúa cho chúng con được vui mừng đón nhận ơn tha thứ của Chúa, và chứng minh hiệu quả ơn ấy bằng một đời sống mới. Nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

Mọi người: Amen.

Chủ sự: Nào ta hãy chúc tụng Chúa.

Mọi người: Tạ ơn Chúa.
Sau cùng mọi người hát bài ca kết thúc: 
CHÚT LÒNG SON
ĐK. Năm tháng dài êm đềm qua, mà con không có điều chi dâng lên Ngài để gọi là đền đáp tình yêu. Bao nhiêu lần lầm với lỡ, nay con ăn năn hối hận muôn vàn. Dám xin Ngài rủ tình thương tha thứ cho con.
1. Bao nhiêu phen ngụp lặn trong tội lỗi ê chề, nay con trở về hồn hoang xơ xác. Thì này đây con xin dâng những gì còn lại, trông mong ơn Chúa để làm lại đời con.
2. Đêm năm xưa vì tình thương con Chúa hiến mình, treo trên thập hình mở nguồn ân phúc. Thì ngày nay con xin dâng hiến cả cuộc đời, đem yêu thương nối lại tình người mọi nơi.
3. Chung quanh con người khổ đau tha thiết van nài, xin chút thương tình hạt cơm manh áo. Vậy mà sao con đang tâm hất hủi người nghèo? Sao không thương xót người bạc phận đìu hiu.
4. Đây tim con dành để yêu thương hết mọi người, xin dâng cho Ngài nguyện xin thánh hóa. Dù từ lâu tâm can con ước mộng thật nhiều, nay tin theo Chúa vì một điều: Tình Yêu.

 các cha giải tội ngồi tại toà để ban bí tích hoà giải cho từng hối nhân.



Þ†ß∞€ Þ†ß∞€ Þ†ß∞€ Þ†ß∞€ Þ†ß∞€ Þ†ß∞€ Þ†ß∞€ Þ†ß∞€ Þ†ß∞€ Þ†ß∞€ Þ†ß∞€ Þ†ß∞€

Chủ sự gợi ý sám hối:………… Hát:

ÐK. Xin chỉ cho con (xin chỉ cho con) đường đi của Chúa (đường đi của Chúa). Xin dạy bảo con (xin dạy bảo con) nước bước của Ngài (nước bước của Ngài). Xin hướng dẫn con trong chân lý. Xin dạy bảo con những điều cao quý, vì Chúa là Ðấng cứu độ con, là Ðấng ngày đêm con cậy trông.
1. Tất cả đường nẻo Chúa là tình yêu và chân lý dành cho những ai giữ trọn minh ước, điều răn Chúa ra nghiêm chỉnh thực thi.
2. Xin mở lượng từ bi từ ngàn xưa Ngài vẫn có, mà quên hết những lỗi lầm con mắc hồi niên thiếu vươn lên trong dại thơ.
3. Xin đừng để kẻ hại con ngày nào reo mừng chiến thắng. Thẹn thay khốn thay cho bọn thất tín, làm sao thoát tay Thiên Chúa toàn năng.

Sau đó, cộng đoàn quỳ thinh lặng, xét mình và cầu nguyện cùng Chúa:
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, không biết tự bao giờ, mỗi khi cầu nguyện, chúng con thường thích cầu nguyện với các Thánh nổi tiếng là hay làm phép lạ, mà ít quan tâm đến các Thánh Tử Đạo Việt Nam để cầu nguyện với các ngài, và làng chúng con lại nhận các Thánh Tử Đạo Việt Nam làm Bổn Mạng. Chúng con thật vô tâm và thiếu sót. Xin Chúa Giêsu Thánh Thể giúp chúng con từ nay, biết siêng năng cầu nguyện với các ngài, nhờ sự chuyển cầu của các ngài cho Quê Hương, Đất Nước, cho Giáo Hội Việt Nam, cho Giáo Xứ, cho gia đình và cho mỗi người chúng con…

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, tạ ơn Chúa vì ngày hôm nay, chúng con không còn bị cấm đạo như ngày xưa, không còn bị chém giết bởi gươm đao hay nhục hình như CT TĐVN đã trải qua. Nhưng con người ngày hôm nay lại rơi vào lối sống hưởng thụ ích kỷ, thích “ngồi mát ăn bát vàng”, thích hưởng thụ hơn là phục vụ… Lạy Chúa, xin cho chúng con ý thức rằng, là Kitô hữu phải biết sống chứng nhân bằng cuộc sống tốt đẹp của mình với nhau và với lương dân.
Xin cho chúng con chuyên cần tham dự và lãnh nhận các Bí Tích, nhất là Bí Tích Thánh Thể và Hòa Giải để với ơn Chúa trợ giúp, chúng con thêm can đảm và kiên trì sống và làm chứng cho đức tin theo gương sáng các Thánh Tử Đạo Việt Nam, hầu giúp những người chưa biết Chúa, đón nhận được đức tin và tình yêu của Chúa. Amen.