Thứ Ba, 3 tháng 12, 2019
ĂN TRÁI CÂY KHI BỤNG RỖNG...
ĂN TRÁI CÂY KHI BỤNG RỖNG...
Ăn trái cây như thế nào mới đúng ?
Nên ăn trái cây khi bụng trống. Nếu ăn theo cách này, trái cây sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tẩy uế cơ thể, cho quý vị năng lực để chữa béo phì và những hoạt động khác.
Thật ra tất cả những điều này sẽ không xảy ra nếu quý vị ăn trái cây khi bụng trống. Trái cây hòa với những thức ăn thối rữa, sẽ tạo nên hơi gas, và làm quý vị bị sình bụng.
Những việc như tóc bạc, hói đầu, tư tưởng bực bội, và bên dưới mắt bị quầng đen sẽ không xảy ra nếu quý vị ăn trái cây khi bụng trống.
🥝Quả KIWI: Nhỏ mà rất mạnh. Có đủ các sinh tố potassium, magnesium, vitamin E & chất sợi. Lượng sinh tố C gấp 2 lần trái cam.
Những chất dinh dưỡng khác trong dưa hấu là sinh tố C & Potassium (Kali).
🥤Uống nước lạnh sau bữa ăn có thể bị ung thư? Chuyện khó tin?? Cho những ai thích uống nước đá lạnh, bài này dành cho quý vị. Uống nước đá lạnh sau bữa ăn thật khoái khẩu. Tuy nhiên, nước lạnh sẽ làm đông đặc những chất dầu mỡ mà quý vị vừa ăn xong. Sẽ làm chậm tiêu hóa. Khi chất “bùn quánh” này phản ứng với axít, nó sẽ phân nhỏ và được hấp thụ vào ruột nhanh hơn là thức ăn đặc. Nó sẽ đóng quanh ruột.. Chẳng bao lâu, nó sẽ biến thành chất béo và đưa đến ung thư. Tốt nhất là ăn súp nóng hay uống nước ấm sau bữa ăn
(Ðông y luôn khuyên nên uống nước ấm ).
Một điều nghiêm trọng về nhồi máu cơ tim
Một bác sĩ chuyên khoa tim cho biết, nếu mọi người nhận được bài viết này gửi tiếp cho 10 người khác, thì ít nhất một mạng người sẽ được cứu sống.
Bác sĩ Stephen Mak
Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ, giờ đến phiên bạn !
[Hải Phạm]
Nguồn: Lối Sống Khoẻ
CÁC BIỂU TƯỢNG VÀ Ý NGHĨA THIÊNG LIÊNG CỦA MÙA VỌNG
Các biểu tượng và ý nghĩa thiêng liêng
của Mùa Vọng
Cây nến màu tím đầu tiên được thắp sáng lên vào ngày Chúa
Nhật I Mùa Vọng. Màu tím tượng trưng cho thời gian chuẩn bị, ăn năn
hối cải, tỉnh thức. Cây nến thứ nhất chiếu ánh sáng Hoà bình cho những tâm hồn
có lòng khoan dung nhân ái.
Mùa Vọng có nhiều biểu tượng. Tại Âu Châu có tập tục văn
hóa, vào Mùa Vọng họ bện đan một vòng tròn bằng cành lá cây thông
còn tươi xanh, chung quanh có bốn cây nến hoặc mầu trắng hoặc mầu đỏ hoặc mầu tím tùy nơi, dựng treo trên cung thánh hay tại phòng
khách ở nhà riêng. Vòng hoa cũng như những ngọn nến có những ý nghĩa thiêng
liêng.
1. Vòng Hoa
Từ thời xa xưa, vòng hoa tượng trưng cho sự chiến thắng.
Hình tròn của vòng hoa nhắc nhở cho biết về tình yêu thương bất tận của Thiên
Chúa dành cho nhân loại.
Những cành lá thông nhỏ được đan bện liền vào nhau nói lên ý
nghĩa cùng chung hợp gắn bó lại làm nên một vòng tròn. Ý týởng này gợi nhớ lời
suy niệm của Ðức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn
Thuận: “Chấm này nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài. Phút này nối tiếp phút kia, muôn triệu
phút thành một đời sống. Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp. Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh. Ðường hy vọng do mỗi chấm hy vọng. Ðời hy vọng do mỗi phút
hy vọng.” (Ð.Hy Vọng số 978)
2. Màu Xanh của Vòng Hoa
Vòng tròn bện bằng những cành lá thông màu xanh nói lên ý
nghĩa sự sống và niềm hy vọng Thiên Chúa mang đến cho trần gian.
Màu xanh lá cây chính là màu chỉ năm phụng vụ, diễn tả niềm
hy vọng trong tình yêu Thiên Chúa dành cho con người. Quanh năm, những cành lá
cây thông luôn xanh tươi. Những cành lá xanh tươi cùng đan kết
lại với nhau hình thành nên một vòng hoa với ý nghĩa: Thiên Chúa và Lời Mạc
Khải không bao giờ thay đổi “Trời đất qua đi, nhưng những Lời Thầy nói sẽ chẳng
qua đâu” (Lc 21, 33).
3. Các Ngọn Nến
Có 4 cây nến thắp lên trong thời gian của Mùa Vọng. Mỗi cây
nến tượng trưng cho một ngàn năm suốt dọc dài lịch sử đợi chờ Ðấng Cứu Thế.
Bốn Cây Nến Mùa Vọng loan báo sứ mạng của Chúa Giêsu xuống
trần gian làm người ở giữa với loài người và cho con người.
Cây nến màu tím
đầu tiên được thắp sáng lên vào ngày Chúa
Nhật I Mùa Vọng. Màu tím tượng trưng cho thời gian chuẩn bị, ăn năn hối cải,
tỉnh thức. Cây nến thứ nhất chiếu ánh sáng Hoà bình cho những tâm hồn có lòng
khoan dung nhân ái.
Cây nến màu tím
thứ hai được thắp sáng lên vào Chúa Nhật II
Mùa Vọng. Ánh sáng thêm lên, giống nhý lòng mong chờ dâng cao ngày Đấng Cứu Thế
hạ sinh nơi lòng người. Cây nến thứ hai mang ánh sáng Niềm Tin
cho những tâm hồn khao khát tìm về với Chúa là cội nguồn của đời sống.
Chúa Nhật III Mùa Vọng. Cây nến màu hồng được
thắp sáng lên cùng với hai cây nến màu tím. Màu hồng tượng trưng cho niềm vui hân hoan đợi chờ Chúa đến.
Cây nến thứ ba chiếu toả hõi ấm Tình Yêu cho những tâm hồn tìm sống tình
liên đới với người khác.
Chúa Nhật IV Mùa Vọng. Cây nến thứ tư mang niềm Hy Vọng cho những tâm hồn cần niềm vui phấn khởi.
Cây nến màu trắng (thêm vào) được thắp sáng lên trong Ngày Giáng Sinh và
trong suốt Mùa Giáng Sinh nhằm nhắc nhở cho chúng ta biết và ý thức hơn về ánh sáng vẹn toàn và nguyên thủy của Chúa Kitô.Trong tư cách là những người Kitô hữu, chúng ta đón
nhận và đem ánh sáng đích thực của Chúa Kitô
vào trong thế giới, để cùng sẻ chia
những niềm vui và ơn phúc mà chúng ta đã lãnh
nhận được từ chính Ngài.
Mùa Vọng chính là mùa của Sự Đợi Chờ cùng với
niềm Hy Vọng về Ánh Sáng của Chúa Kitô.
Bốn cây nến được lần lượt thắp sáng trong bốn tuần lễ muốn
nói lên ý nghĩa: Nước Thiên Chúa cũng triển nở lần lượt như bốn cây nến được thắp lên cho tới
ngày lễ Chúa Giêsu giáng sinh, Ðấng là ánh sáng trần gian. Ánh sáng bốn cây nến
toả ra bốn phương trời đất trong công trình sáng tạo của Thiên
Chúa.
Cây nến là hình ảnh Chúa Giêsu, ánh sáng trần gian (Gioan
8,12).
Khi cây nến được đốt lên cũng cắt nghĩa về hình ảnh Chúa
Giêsu. Chất sáp làm nên cây nến là hình ảnh thân xác con người của Chúa Giêsu. Thân xác con người được Thiên Chúa dựng nên có khởi đầu, có phát triển, có những yếu đuối bệnh tật giới hạn và
sau cùng có ngày cùng tận. Chúa Giêsu xuống trần gian làm người, sống cuộc sống hy sinh của con người như chất sáp bị cháy hao mòn
thiêu huỷ.
Còn ngọn lửa đốt sáng cây nến là hình ảnh bản tính Thiên
Chúa của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là Thiên Chúa và cũng là người, nên ngài có hai bản tính: Thiên Chúa và con người. Ngọn lửa đốt cháy
chất sáp và tỏa ra ánh sáng hơi ấm tình yêu cho mọi người.
Lm
Giuse Nguyễn Hữu An, sưu tầm
Ý NGHĨA LOGO NĂM GIỚI TRẺ 2020
Ý NGHĨA LOGO
NĂM GIỚI TRẺ 2020
Nguồn mạch: Lc 24, 13-35.
Thượng Hội Đồng Giám Mục 15 đã nhìn
nhận hành trình Emmau (Lc 24,13-35) như là một văn bản kiểu mẫu để hiểu sứ vụ của
Hội thánh trong tương quan với các thế hệ trẻ và giúp tái hiện lại cuộc đối thoại
của Đức Giêsu với người trẻ hôm nay. Kiểu mẫu này mong muốn gửi đến người trẻ
bài học về sự trưởng thành đức tin thông qua tiến trình 3 bước theo diễn biến
tâm lý của hai môn đệ trên hành trình Emmau đó là:
1.
Để Chúa Giêsu bước vào trong đêm tối của cuộc đời. (Tông huấn Chúa
Kitô đang sống, số 237).
2.
Khi lắng nghe Người, họ cảm thấy lòng ấm lên và trí sáng ra;
3.
Khi Người bẻ bánh, mắt họ mở ra.
4. Chính họ chọn đi trở lại ngay lập tức con đường vừa đi, để về với
cộng đoàn và chia sẻ kinh nghiệm gặp gỡ Đấng Phục sinh
Logo tròn: là khối
hình ưu tiên trong việc phát triển hầu hết các mẫu thiết kế logo vì tính đối xứng,
biểu trưng hài hoà và mang ý nghĩa trong sự thể hiện trọn vẹn về niềm tin, hay
sự thống nhất về mặt biểu tượng. Logo tròn tạo thành từ 3 khối chữ và số, thể
hiện đầy đủ và tái hiện lại tiến trình 3 bước “ĐỒNG HÀNH VỚI NGƯỜI TRẺ HƯỚNG
ĐẾN SỰ TRƯỞNG THÀNH TOÀN DIỆN”, “Lc 24, 13-35”, kết hợp với khối “MỤC VỤ
GIỚI TRẺ 2020” tạo thành khối tròn cách điệu hình ảnh địa cầu mang ý nghĩa
quy hướng về khối “Ba hình ảnh người” nổi bật ở trung tâm khối.
- Trích dẫn“Lc 24,13-35” thể hiện trên logo nhắc nhớ người trẻ
về đoạn Tin mừng diễn tả cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với hai môn đệ trên đường
Emmau. Trích dẫn đơn giản đó cũng nhắc nhở người trẻ về việc sử dụng Kinh Thánh
- như kim chỉ nam cho người trẻ để tìm ra ý nghĩa của cuộc đời mình
“Như hai người trẻ trên dường Emmau, các con hãy đến với Chúa Giêsu, tâm sự với Người
trong cầu nguyện, lắng nghe lời Người trong Sách thảnh, đón nhận sức sống của Người trong
Thánh Thể, nhờ đó biết nhìn cuộc đời với cặp mắt mới và nhận ra Chúa luôn đồng
hành với các con.”
(HĐGMVN,Thư Chung 2019)
- Cụm từ “ĐỒNG HÀNH VỚI NGƯỜI TRẺ HƯỚNG
ĐẾN SỰ TRƯỞNG THÀNH TOÀN DIỆN” là chủ đề được HĐGM VN chọn để hướng đến,
đồng hành và cầu nguyện
cách riêng cho người trẻ theo tài liệu làm việc của Thượng HĐGM thế giới về người
trẻ đưa ra. Chủ đề như một lời mời gọi, một xác nhận về sứ vụ mà Hội Thánh mong
muốn đồng hành với người trẻ, để “Giáo Hội trở thành chỗ dựa vững chắc giúp người
trẻ tin đó là nơi họ được thuộc về” (văn bản tiền HĐGM về Người trẻ
(Vatican-tháng 11/2018)).
“Như hai người trẻ trên dường Emmau, các
con hãy đến với cộng đoàn Giáo hội ở nơi các con đang sinh sống, học hành, làm
việc. Đức tin Kitô giáo luôn mang chiều kích cộng đoàn. Các con không sống đức
tin một minh, nhưng với
cộng đoàn và trong cộng đoàn. Hãy tích cực tham gia các sinh hoạt của giáo xứ,
hội đoàn, hoặc cộng đoàn Kitô hữu nhỏ, nhờ đó các con cảm nhận được sự nâng đỡ
trong những lúc khó khăn, đồng thời học mở lòng ra trước nhu cầu của tha nhân.”
( HĐGMVN,Thư Chung 2019)
-Cụm từ “MỤC VỤ GIỚI TRẺ 2020”,
tên chủ đề chính trong chuỗi 3 năm đồng hành với người trẻ trong các thánh lễ,
các hoạt động, để hướng người trẻ về với ý nghĩa lớn nhất của mục vụ là Bí Tích
Thánh Thể - sức mạnh và là ân sủng giúp người trẻ tìm lại niềm hạnh phúc thật,
kín múc ơn bình an, và sức mạnh để bước tiếp chặng đường sứ mạng cuộc đời Chúa
trao cho mỗi người trẻ.
“Như
hai người trẻ trên đường Emmau, các con hãy mạnh dạn kể lại cho các bạn trẻ
khác về kinh nghiệm đức tin của mình, kể bằng lời và bằng chính cuộc sống tốt
lành của các con. Hơn ai hết, chính các con phải là tông đồ cho người trẻ,
những người cùng trang lứa, sống trong cùng một thời đại và môi trường với các
con. Được như thế, các con sẽ trở thành những sứ giả loan báo Tin mừng của Chúa Kitô Phục sinh cho mọi người, đồng thời góp
phần dựng xây quê hương và dân tộc Việt Nam thịnh vượng, công bằng và hạnh
phúc.”
( HĐGMVN,Thư Chung 2019)
Ý nghĩa hình ảnh
- Khối ba hình ảnh con người:
*Hình người chính giữa: là
hình ảnh cách điệu Chúa Giêsu Phục Sinh trong trang phục áo thụng dài với mảnh
vải hình chữ S vắt qua vai. Mảnh vải vừa thể hiện rõ nét và làm sống động hình ảnh
Chúa Phục Sinh; vừa vẽ nên hình ảnh con đường khúc khuỷu - đường Emmau mà Ngài
đang bước đi cùng hai môn đệ, hay nhắc nhớ cho chúng ta về đoạn Tin Mừng Ga 14,1-6
rằng “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với
Chúa Cha mà không qua Thầy”. Nén trong dải vải lụa cách điệu hình chữ S, đó
còn là biểu tượng đặc trưng mang bản sắc dân tộc Việt, thể hiện khao khát cách
riêng của người trẻ Việt muốn ghi dấu niềm tin vào Chúa, cùng theo Chúa bước
trên con đường Emmau, được Chúa đồng hành, chăm sóc và vác trên vai như con
chiên lạc.
*Hình người hai bên phải trái:
tượng trưng cho hai môn đệ trên đường Emmau. Cánh tay vươn lên cao
như cách thể hiện sự vui mừng, hoan hỷ của hai môn đệ vì được Chúa Giêsu nắm giữ
và đồng hành với họ trên đường Emmau. Nó cũng diễn tả sự vươn lên và trưởng
thành về Đức tin của hai môn đệ sau khi được gặp gỡ Chúa.
- Sự liền mạch của kết cấu 3 người trong logo qua
cánh tay muốn diễn tả và truyền đi thông điệp về ước mong của người trẻ
trong sự gắn kết với sự sống của Đức Kitô và cùng Ngài sống lại và sống
mãi. Người trẻ khao khát mình được sống lại như hai môn đệ xưa kia, được
Chúa đồng hành, thêm sức, ủi an để vượt qua và đứng vững trước mọi thách đố
trong đời; những trở ngại phải trải qua được ví như những con đường quanh
co, núi đồi trắc trở. Điều đó cũng diễn tả hành trình mà người trẻ mong muốn
được Chúa hướng dẫn để được trưởng thành toàn diện trong đời sống đức tin
cũng như trong đời sống thường nhật.
- Cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với hai môn đệ
cũng diễn tả sự quan tâm, quan phòng của Chúa luôn đoái nhìn mỗi người chúng
ta. Cuộc đối thoại đó cũng nhắc nhớ người trẻ về ước mong được trò chuyện
với Chúa mỗi ngày, và khao khát đón nhận sự đồng hành của Giáo hội trong
cuộc sống đời thường.
- Phía trước họ là con đường khúc khuỷu - diễn tả hành
trình Emmau mà họ đang đi. Và con đường đó dẫn về Thánh Giá (được đặt
cao nhất trong khối logo tròn) như nhắc mỗi người chúng ta cùng bước trên
con đường Ngài đã đi qua, dám dấn thân, tin tưởng vào Ánh Sáng Phục Sinh
đang lan tỏa và hướng chúng ta về quê trời.
- Những tia sáng và thánh giá đi ra khỏi đường
tròn của logo thể hiện tính siêu việt và phá vỡ những giới hạn mà sự Phục
Sinh của Chúa mang đến cho người trẻ. Điều đó mang lại hy vọng rằng những
giới hạn của bản thân sẽ được phá vỡ khi chúng ta tin vào Ánh Sáng Phục
Sinh, tin vào sự đồng hành của Chúa trên tiến trình thăng tiến của mỗi người
cách riêng là người trẻ. Sự phát triển toàn diện nhằm hướng người trẻ và mời
gọi người trẻ chia sẻ khả năng, sử dụng nén vàng Chúa trao để can đảm dấn
thân loan báo Tin mừng như hai môn đệ.
- Màu sắc của logo được sử dụng
dựa trên 5 màu chủ đạo mang màu sắc trẻ trung, tươi vui, diễn tả ý
nghĩa niềm hy vọng của mầu nhiệm Phục Sinh.
*Sắc Cam của lửa - biểu tượng
nguồn ơn Chúa Thánh Thần, của nhiệt huyết, được chọn tô cho hình ảnh Chúa Giêsu,
như muốn tập trung nguồn ơn sức mạnh mà người trẻ cần tìm kiếm cho cuộc đời
mình chính là Chúa Giêsu.
*Sắc Xanh Dương diễn tả
sắc xanh của hy vọng, sự mong chờ niềm vui của ơn cứu độ.
*Sắc Xanh Lá mang sức sống
tinh thần của người trẻ, màu sắc của sự tươi mát và tinh thần sống xanh nhắc nhớ
người trẻ trong việc chung tay bảo vệ ngôi nhà chung.
*Sự hoà quyện của 3 sắc màu trên hướng
tới Thánh Giá màu Đỏ- biểu tượng của tình yêu, nhắc nhớ về sự hy sinh của
Chúa trên Thập Giá, về Bí tích Tình Yêu và con đường Trắng diễn tả sự Phục
Sinh - con đường hướng người trẻ về quê trời trong hân hoan và vững tin vào mầu
nhiệm sống lại của Chúa Giêsu.
Thứ Hai, 2 tháng 12, 2019
KINH VINH DANH TRONG THÁNH LỄ
Nhằm nhấn mạnh
đến tính chất thống hối của mùa Chay, kinh Vinh Danh không được hát trong các Chúa nhật mùa
Chay, trừ ra trong dịp lễ trọng hay lễ kính. Như truyền thống đã đi vào
nghi lễ Rôma trong Sách lễ tiền Công đồng Vatican II và vẫn giá trị cho đến
nay, thánh lễ tiệc ly có hát kinh Vinh Danh để chỉ ra rằng mùa Chay đã kết
thúc. Đang khi hát thì rung chuông (chuông [nhỏ] cung thánh và chuông [lớn]
trên tháp chuông), sau đó, không rung chuông nữa cho đến kinh Vinh Danh của lễ
Vọng Phục Sinh. Đang khi cộng đoàn hát kinh Vinh Danh trong lễ Vọng Phục Sinh,
cũng có thể kéo chuông nếu có tục lệ này. Kinh Vinh Danh dĩ nhiên sẽ được hát
tiếp trong các Chúa nhật Phục Sinh, các ngày trong tuần bát nhật Phục Sinh và
các Chúa nhật thường niên nữa. Để biết thêm về kinh Vinh Danh, bài viết sau sẽ
dẫn giải các khía cạnh về lịch sử, ý nghĩa và mục vụ của lời kinh này.
LỊCH SỬ
Kinh Vinh Danh
trong thánh lễ - tức bài Gloria in excelsis Deo (Vinh danh thiên chúa trên các
tầng trời) - được gọi là “Vinh tụng ca lớn” (= “Lời đại tán tụng”) nhằm phân
biệt với “Vinh tụng ca nhỏ” là Kinh Sáng Danh (Gloria Patris).
Kinh Vinh Danh
là một trong những bài hát rất cổ xưa của Giáo hội thời kỳ đầu cùng với các
Kinh Pros hilarion (Ôi nguồn sáng huy hoàng) và Te Deum (Chúng con chúc tụng
Chúa).
Kinh Vinh Danh
được tìm thấy trong 3 phiên bản: i] Phiên bản Syria từ phụng vụ của phái
Nestorius; ii] Phiên bản Hy Lạp từ sách Hiến chế Tông đồ; iii] Phiên bản Hy Lạp từ phụng vụ Byzantin của
nghi lễ Đông phương. Phiên bản sau cùng có nội dung trùng khớp hầu hết với
phiên bản phương Tây.1 Kinh Vinh Danh bấy giờ không được sử dụng trong thánh lễ
mà là lời kinh chúc tụng ngợi khen được sử dụng như một bài thánh ca Rạng đông
Phục sinh và dần dần thuộc thành phần kết thúc của Kinh Sáng như trong nghi lễ
bên phương Đông. Bên Tây phương cũng vậy, chẳng hạn tại các tu viện vùng Ái Nhĩ
Lan và Pháp, kinh Vinh Danh hồi đầu không nằm trong thánh lễ.2
Bài ca này
xuất hiện sớm nhất vào thế kỷ thứ IV, nhưng chỉ được đưa vào thánh lễ Rôma vào
đầu thế kỷ thứ V dưới thời của Đức Lêô Cả (400-461), lúc đó người ta chỉ hát
kinh Vinh Danh trong thánh lễ nửa đêm Giáng Sinh vì là bài ca các thiên thần
hát tại Bêlem trong đêm Chúa xuống thế làm người (Lc 2,13-14).3 Thật ra trước
đó, ĐGH Telesphorus (128- 139?) đã ra lệnh phải hát kinh Vinh Danh trong thánh
lễ Giáng Sinh lúc nửa đêm.4
Sau đó, đến
đời Đức Giáo Hoàng Synmaque (498-514), kế vị Đức Gelasio, kinh Vinh Danh mới
được quyết định cho hát giữa phần kinh Nhập lễ (Introit) và kinh Thương Xót
(Kyrie) trong tất cả các thánh lễ Chúa nhật và lễ kính các thánh tuẫn đạo khi
do một vị giám mục cử hành.5
Sau cùng kinh
Vinh Danh được dành cho cả lễ các thánh giáo hoàng, rồi đến các thánh giám
mục.6 Căn cứ vào cuốn Sacramentarium Gregorianum, đặc quyền này của Đức Giám
mục tồn tại trong một thời gian khá lâu bởi vì cho đến thế kỷ VII, một linh mục
thường chỉ được phép hát kinh Vinh Danh mỗi năm một lần vào lễ Phục Sinh (đêm
Canh thức Vượt qua) và trong dịp thụ phong linh mục khi ngài được rước vào nhà
thờ họ để cử hành thánh lễ mở tay (theo nghi thức của St. Amand). Dần dần về
sau, khoảng cuối thế kỷ XI, kinh Vinh Danh mới trở nên phổ biến và mọi linh mục
cũng được quyền bắt hát như Đức Giám mục trong tất cả những ngày lễ Chúa nhật
và lễ mừng có tính chất long trọng trừ ra trong mùa Vọng và mùa Chay.7
Kinh Vinh Danh
vốn là một trong số vài bài nằm trong cuốn Ordo Missae La-tinh được phổ biến
hết sức rộng rãi từ thời Carolingian (751 - ...) ngay cả bên ngoài thánh lễ.
Bằng chứng là khi hoàng đế Charlemagne dẫn Đức Lêô III vào trong tòa nhà nghị
viện của đế quốc tại Paderborn
(năm 799), mọi người đã hát kinh Vinh Danh.8
Tới cuối thế
kỷ thứ VIII, kể như nghi thức mở đầu của thánh lễ gồm: ca nhập lễ, làm nổi bật
tinh thần ngày lễ; kinh Thương Xót (Kyrie); kinh Vinh Danh (Gloria); và lời
nguyện nhập lễ. Theo Jungmann, đến thế kỷ IX, luật chữ đỏ đòi buộc vị giám mục
chủ tế phải đối diện với dân chúng trong khi cất tiếng hát kinh Vinh Danh,
nghĩa là từ ban đầu kinh Vinh Danh hẳn là được hát bởi toàn thể cộng đồng.9
Giống như kinh Thương xót, từ lúc khởi đầu, kinh Vinh Danh là một bài hát mang
tính cộng đồng. Nhưng sau đó, kinh Vinh Danh được người ta thêu dệt thêm bằng
những giai điệu âm nhạc hoa mỹ và phức tạp khiến cho nó trở thành bài hát của
riêng ca đoàn.
Cấu trúc của
nghi thức mở đầu Thánh lễ (= ca nhập lễ + kinh Thương xót (Kyrie) + kinh Vinh
Danh (Gloria) + lời Tổng nguyện) đã được Sách lễ Rôma của Đức Phaolô VI
(1969/1970) lấy lại từ phụng vụ thế kỷ VIII, tuy nhiên thêm vào đó nghi thức
sám hối mặc dầu nghi thức này mãi thế kỷ IX mới có.
Tập tục như
chúng ta thấy hiện nay, coi như đã thành hình từ thế kỷ XI, nghĩa là kinh Vinh
Danh được hát vào tất cả những Chúa nhật và những ngày lễ kính, lễ trọng, ngoại
trừ những ngày thống hối trong toàn Giáo hội Tây phương.10
Ý NGHĨA11
Kinh Vinh Danh là một thánh thi
chúc tụng và khẩn nài hướng lên Chúa Cha và Đức Kitô (Quy chế Tổng quát Sách lễ
Rôma = QCSL, số 43). Toàn bản văn chia làm 3 phần: i] Đoạn mở đầu; ii] Đoạn
hướng về Chúa Cha; iii] Đoạn hướng về Đức Kitô.
A. Đoạn mở đầu: Lời ca thiên thần trong đêm Chúa Giáng Sinh
Vinh danh
Thiên Chúa trên các tầng trời,/ và bình an dưới thế cho loài người Chúa
thương (cho người thiện tâm).
Lời này được
tổng hợp từ nhiều bản văn Thánh Kinh, đặc biệt từ lời ca ngợi do các thiên thần
hát lên trong đêm Chúa Giáng Sinh tại Bêlem (x. Lc 2,13-14). Vì vậy, nó còn có
tên gọi là Thánh ca Thiên Thần (x. Ga 1,29; Tv 109, 1; Cv 2,34-36).12
Khi thiên thần
hát “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời” trong đêm Chúa Giáng Sinh tại
Bêlem, chúng ta hiểu ngay rằng đây là những lời nhằm ca tụng vinh quang và lòng
nhân hậu của Thiên Chúa Cha - Đấng đang ngự trên trời - chứ không nhắm đến Chúa
Giêsu và câu này trở thành như một lời loan báo vui mừng về vòng tay ôm ấp giữa
trời và đất. Chính Chúa Cha đã thực hiện ơn cứu chuộc cách tỏ tường qua mầu
nhiệm nhập thể và chương trình này, tức “Ca tụng tôn vinh danh Thiên Chúa và ơn
cứu rỗi cho nhân loại” chưa “đạt tới” sự trọn vẹn cho đến khi Chúa Giêsu chịu
nạn chịu chết trên thập giá làm hy tế dâng lên Chúa Cha; chương trình này vẫn
đang hiện thực mỗi khi Hội Thánh quy tụ nhau để cử hành Thánh Thể và cất lên
lời ca này.13
Mệnh đề “cho
người thiện tâm” là dịch sát theo bản Latinh “homminibus bonae voluntaris” được
rút từ bản Vulgata (Lc 2,14) mà bonae voluntaris chỉ được dịch lại từ chữ
êuđôkia của nguyên bản Hy Lạp. Trong Thánh Kinh, hai từ êuđôkia và êuđôkêin nói
lên đặc ân hay lòng tốt của Thiên Chúa dành cho kẻ được Ngài tuyển chọn. Cho
nên anthropôi êuđôkia dịch là những người được Thiên Chúa yêu thương giáng phúc
(loài người Chúa thương) thì thích hợp hơn cho “người thiện tâm”, nghĩa là
Thiên Chúa không chỉ giới hạn ban bình an cho người có thiện tâm mà cho tất cả
những ai đẹp lòng Người. Ở đây cũng có thể hiểu là ơn cứu độ của Chúa không chỉ
dành riêng cho nhúm người có thiện tâm hay dành riêng cho người Do Thái, mà cho
tất cả mọi người.14 Nói cách khác, bình an chính thức và siêu nhiên không thể
do tự thiện tâm con người mà có, nhưng phải nhờ tình thương Thiên Chúa ban
tặng.15
B. Đoạn thứ II: Lời tôn vinh Thiên Chúa
Chúng con ca
ngợi Chúa, chúng con chúc tụng Chúa (Br 3,6; Tv 145,2),/ chúng con thờ lạy
Chúa, chúng con tôn vinh Chúa (Kh 4,11; Rm 11,36; 1Cr 6,20),/ chúng con cảm tạ
Chúa vì vinh quang cao cả Chúa (1Bns 16,24; 2Cr 4,15)./ Lạy Chúa là Thiên Chúa,
là Vua trên trời (Kh 4,8; Tb 13,7; Dn 4,37),/ là Chúa Cha toàn năng (St 17,1-2;
2Cr 6,18).
Tiếp nối chủ
đề lời ca của các thiên thần, đoạn này diễn tả sự nối kết giữa trời và đất
trong những lời ngợi khen chúc tụng Thiên Chúa qua 5 động từ tuôn ra một mạch
theo thể thức tôn thờ của các thánh thi cổ xưa. Năm động từ này là: ca ngợi;
chúc tụng; thờ lạy; tôn vinh; và cảm tạ Chúa được vang lên như những làn sóng
đại dương không ngớt trào dâng mà đỉnh cao là “chúng con cảm tạ Chúa vì vinh
quang cao cả Chúa”.16 Kiểu tung hô chúc tụng như thế đã tồn tại trong phụng vụ
từ rất xa xưa, là một thói tục diễn ra trong buổi phụng tự công cộng dành cho
các hoàng đế, nhưng sau đã được tu chỉnh, được “rửa tội” để dùng trong Giáo
hội.17
Đoạn này tiếp
tục nhấn mạnh đến vinh quang của Thiên Chúa được biểu lộ bằng ngôn từ hay trưng
ra một chuỗi danh hiệu: Ngài là Thiên Chúa (Deus), là Vua trên trời (Rex
caelestis), đặc biệt Ngài là Cha toàn năng (Pater omnipotens), một cụm từ đã có
trong kinh Tin Kính các Tông đồ (Symbolum apostolicum), thường xuất hiện trong
các thánh thi cổ cũng như Thánh Thi Te Deum. Vì vậy, loài người phải bày tỏ
thái độ “chúc tụng, thờ lạy, tôn vinh và cảm tạ” dành cho Ngài.18
C. Đoạn thứ III: Lời kêu cầu Đức Giêsu
Lạy Con Một
Thiên Chúa, Chúa Giêsu Kitô (Ga 1,14. 18),/ Lạy Chúa là Thiên Chúa, là Chiên
Thiên Chúa / là Con Ðức Chúa Cha (Kh 1,8; Ga 1,29). Chúa xóa tội trần gian, xin
thương xót chúng con (Ga 1,29); Chúa xóa tội trần gian, xin nhậm lời chúng con
cầu khẩn (Ga 14,13). Chúa ngự bên hữu Ðức Chúa Cha (Cl 3,1; Dt 8,1), xin thương xót chúng con.
Vì, lạy Chúa Giêsu Kitô, chỉ có Chúa là Ðấng Thánh (Kh 15,4), chỉ có Chúa là
Chúa (Is 37,20), chỉ có Chúa là Ðấng Tối Cao (Tv 83,18), cùng Ðức Chúa Thánh
Thần ( Rm 8,9; 1Pr 3,8) trong vinh quang Ðức Chúa Cha (Lc 9,26; Ga 1,14; Pl
2,11).
Trước hết,
đoạn này quy hướng về Chúa Kitô với những danh hiệu chính của Ngài là: Chủ Tể
(Dominus); Thiên Chúa (Deus); Chiên Thiên Chúa (Agnus Dei); Con Chúa Cha
(Filius Patris). Nghĩa là Chúa Kitô vừa là Thiên Chúa uy quyền, đồng bản thể
với Chúa Cha, vừa là Đấng Cứu Chuộc nhân loại (Chiên hy tế là tước hiệu quy về
công trình cứu độ của Đức Kitô). Chính Đức Giêsu, Con Thiên Chúa (Filius
Patris) mới là phản ánh trung thực vinh quang của Thiên Chúa Cha tại trần gian
(Dt 1,3).19
Bài ca sau đó
chuyển sang ca tụng Chúa Giêsu nhưng dưới dạng khẩn cầu với ba lời van nài như
trong các kinh cầu, trong đó, Hội Thánh không những nhắc nhớ công trình cứu độ
Chúa Kitô đã chết trên thập giá để xóa tội trần gian mà còn nhìn ngắm Ngài đang
khải hoàn ngự bên hữu Đức Chúa Cha.
Tiếp đó, Hội
Thánh xưng tụng Đức Kitô với ba danh hiệu: Đấng Thánh (Sanctus); Chủ Tể
(Dominus); Đấng Tối Cao (Altissimus) vốn đã từng nằm trong các công thức tuyên
xưng đức tin thời kỳ đầu Kitô giáo: nghĩa là, các tín hữu không những tuyên
xưng thiên tính của Đức Kitô mà còn muốn khẳng định bằng cả mạng sống mình là
họ chỉ tôn thờ một mình Người là Đấng Thánh, thuộc về thượng giới, là Kyrios
theo tinh thần của 1Cr 8,6 và Pl 2,11; còn các tà thần đều là thọ tạo phàm tục
vì thuộc về trần thế. Chỉ có thể hiểu những điểm này khi biết bối cảnh lịch sử
ra đời của kinh Vinh Danh: đây là thời kỳ thần dân phải tôn thờ hoàng đế; thời
kỳ của những lễ hội huy hoàng với những buổi thờ cúng các thần minh vốn bao gồm
cả những cuộc hiến tế công cộng; các Kitô cũng bị lôi kéo và bị ép buộc phải
tôn thờ hoàng đế và dâng hương cho các thần minh, nhưng họ đã cương quyết từ
chối mà chỉ tuyên xưng và tôn thờ một mình Đức Kitô với danh hiệu Kyrios. Hành
động này khiến họ bị nghi ngờ là đe dọa cho an ninh công cộng, là kẻ thù của
thần minh và đất nước, nên đã thường xuyên bị bách hại và phải trả giá bằng cả
tính mạng của mình.20
Phần cuối,
kinh Vinh Danh kết thúc với lời tôn vinh Đức Kitô, Chúa Thánh Thần và Chúa Cha
vì cả Ba Ngôi đều chung nhau một vinh quang. Chính vì vậy bài ca này có tên là
Gloria (Vinh danh) và bên phụng vụ Đông phương đặt tên là Vinh tụng ca lớn
(doxologia major) đối lại với những Vinh tụng ca “ngắn”/ “nhỏ” (Gloria Patris)
như kinh “Sáng danh Đức Chúa Cha và...” . Vinh tụng ca kết thúc kinh Vinh danh:
“Lạy Chúa Giêsu Kitô, chỉ có Chúa là Ðấng Thánh, chỉ có Chúa là Chúa, chỉ có
Chúa là Ðấng Tối Cao, cùng Ðức Chúa Thánh Thần trong vinh quang Ðức Chúa Cha”
xem ra cũng gần gần tương tự như Vinh tụng ca trong lễ quy của phụng vụ thánh
Gioan Kim Khẩu bởi vì sau khi tư tế cao rao: “Của thánh dành cho dân thánh!” khi
ngài đang giơ cao Mình Máu Thánh, ca đoàn sẽ đáp lại rằng: “Lạy Chúa Giêsu
Kitô, chỉ có Chúa là Ðấng Thánh, chỉ có Chúa là Chúa, hướng đến vinh quang Ðức
Chúa Cha”.21
THỰC HÀNH
Không được
thay đổi bản văn của kinh này bằng một bản văn khác (QCSL 53).
Vị tư tế hay,
tùy nghi, một ca viên hay ca đoàn xướng lên, rồi mọi người cùng hát chung, hay
luân phiên giữa giáo dân và ca đoàn, hay chỉ ca đoàn. Nếu không hát thì phải
đọc, hoặc mọi người đọc chung, hoặc chia hai bè đối đáp (QCSL 53).
Dù có thể hát
hay đọc kinh Vinh Danh (x. QCSL 53; 126 / Nghi thức Thánh lễ, số 8) nhưng phải
cố gắng để bảo đảm kinh Vinh Danh được hát luôn luôn, ngoại trừ vì những lý do
mục vụ, bởi đây là một bài thánh ca mang tính lễ hội và là bài thi ca tự bản
chất; Cũng đừng bao giờ hát kinh Thương Xót rồi lại chỉ đọc kinh Vinh
Danh.22Joseph Gelineau đã nhận định rằng: “Đọc kinh Vinh Danh để rút ngắn thời
giờ là một giải pháp lai căng mà công cuộc canh tân đã sửa chữa”.23
Được hát hay đọc trong các Chúa nhật ngoài
mùa Vọng và mùa Chay, trong các lễ trọng và lễ kính, và trong các dịp lễ khá
long trọng (QCSL 53).
Nên sử dụng
bản hát mà mọi người trong cộng đoàn đều thuộc để việc ca hát mang tính cộng
đồng và mang lại một nét đặc sắc cho buổi cử hành.
Nhớ cúi đầu
khi đọc danh Ba Ngôi Thiên Chúa ở phần cuối và danh thánh Giêsu ở phần giữa của
kinh Vinh Danh (x. QCSL 275a).
Lm. Giuse Phạm Ðình Ái, dòng Thánh Thể, SSS
Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2019
10 ĐIỀU BẠN CẦN BIẾT VỀ MÙA VỌNG
Hầu hết trong chúng ta có một sự hiểu biết trực quan về Mùa Vọng
dựa trên kinh nghiệm, nhưng những văn kiện chính thức của Giáo Hội thực sự nói
gì về Mùa Vọng?
Dưới đây là một số câu hỏi cơ bản và những hồi đáp (chính thức!)
về Mùa Vọng.
Một số trong đó thật bất ngờ!
1. Mục đích của mùa Vọng là gì?
Mùa Vọng là một mùa trong niên
lịch phụng vụ của Giáo Hội – chính xác hơn, thuộc niên lịch của Giáo Hội
Latinh, là Giáo Hội lớn nhất hiệp thông với Đức Giáo Hoàng.
Những Giáo Hội Công giáo khác –
cũng như nhiều Giáo hội không phải Công giáo — có tổ chức Mùa Vọng nhưng theo
cách thức riêng của họ.
Theo những quy luật chung của
năm phụng vụ và niên lịch, Mùa Vọng có một đặc tính với hai khía cạnh:
- Là một mùa để chuẩn bị cho Giáng Sinh khi
chúng ta tưởng niệm việc Đức Kitô đến lần thứ nhất.
- Như là một Mùa mà việc nhớ lại ấy hướng tâm
trí của chúng ta tới sự chờ đợi cho lần trở lại của Đức Kitô trong ngày sau
hết.
Do đó, Mùa Vọng là một thời kỳ
sốt sắng và mong đợi trong hân hoan. (quy luật 39)
Chúng ta thường nghĩ về Mùa
Vọng chỉ như là một mùa chuẩn bị cho Giáng sinh hay tưởng nhớ việc Đức Kitô đến
lần thứ nhất, nhưng như những quy luật tổng quát chỉ ra, thật quan trọng để
nhắc nhớ rằng Mùa Vọng còn là dịp để chúng ta hướng tới sự trở lại của Đức
Kitô. Cho nên, có thể nói Mùa Vọng đưa tâm trí chúng ta hướng về hai lần đến
thế gian của Đức Kitô.
2. Những màu phụng vụ nào được sử dụng trong mùa Vọng?
Những ngày đặc biệt và những
nghi thức cử hành nào đó có thể có những màu riêng (thí dụ, màu đỏ dành cho lễ
kính các thánh tử đạo, màu đen hay trắng vào dịp lễ an táng), nhưng màu thông
thường của Mùa Vọng là tím. Hướng dẫn Tổng quát trong sách lễ Roma đưa ra: Màu
tím hay đỏ tía được sử dụng trong Mùa Vọng và Mùa Chay. Các màu này cũng có thể
được mặc trong những nghi thức và Thánh lễ an táng (346).
Ở nhiều nơi, có một ngoại lệ
đáng chú ý cho Chúa Nhật thứ ba Mùa Vọng, được biết tới như là “Chúa Nhật vui”
(Gaudete) : Màu hồng có thể được sử dụng trong ngày Chúa Nhật vui và
Chúa Nhật thứ ba Mùa Chay (Laetare). (GIRM 346f).
3. Phải chăng Mùa Vọng là mùa thống hối?
Chúng ta thường nghĩ về Mùa
Vọng như là mùa thống hối bởi vì màu tím trong phụng vụ, giống như màu của mùa
Chay – màu dành cho mùa sám hối.
Tuy nhiên, sự thực là Mùa Vọng
không phải là mùa thống hối. Thật ngạc nhiên!
Theo điều khoản của Giáo Luật:
số 1250: những ngày và những lần sám hối trong Giáo Hội hoàn vũ là mọi thứ sáu
trong cả năm và cả mùa Chay.
Mặc dầu các đấng bản quyền địa
phương có thể thiết lập thêm những ngày sám hối, song, trên đây đã là một danh
sách đầy đủ của những ngày và những lần thống hối trong Giáo Hội Latinh cũng
như toàn thể Giáo Hội, và Mùa Vọng không phải là một trong số đó.
4. Mùa Vọng bắt đầu và kết thúc khi nào?
Theo những quy luật tổng quát:
Mùa Vọng bắt đầu với giờ Kinh Chiều I của Chúa Nhật ngày hoặc gần ngày 30/11
nhất; Mùa Vọng sẽ kết thúc vào trước giờ Kinh Chiều I của lễ Giáng Sinh (số
40).
Chúa Nhật đúng vào hay gần với
ngày 30.11 nhất có thể trong khoảng 27.11 – 3.12, tùy theo năm.
Trong trường hợp một Chúa Nhật,
giờ Kinh Chiều I được xem như vào Kinh Chiều I trước đó (thứ 7). Theo hướng dẫn
tổng quát của các giờ kinh phụng vụ: Được cử hành ngay trước Thánh lễ, giờ Kinh
Chiều được gộp vào cùng một cách thức như Kinh Sáng. Giờ Kinh Chiều I của những
lễ trọng, các Chúa Nhật hay lễ kính Chúa rơi vào ngày Chúa Nhật có thể không
được cử hành cho tới sau Thánh lễ của ngày hôm trước hay thứ bảy.
Điều này có nghĩa rằng, Mùa
Vọng bắt đầu vào buổi chiều của thứ 7 giữa 26/11 – 2/12; kết thúc vào chiều
ngày 24.12, lúc cử hành Kinh Chiều I lễ Giáng Sinh (25/12).
5. Vai trò của các Chúa Nhật trong Mùa Vọng?
Có 4 Chúa Nhật trong Mùa Vọng. Các quy luật tổng quát tuyên bố:
Các Chúa Nhật của mùa này được gọi là Chúa Nhật thứ nhất, thứ Hai, thứ Ba và thứ
Tư của Mùa Vọng (số 41)
Chúng ta đã đề cập trước đó về Chúa Nhật thứ ba có tên đặc biệt
là Gaudete – từ Latinh có nghĩa là “niềm vui” là từ đầu tiên
trong ca nhập lễ của Thánh lễ trong ngày này.
Giáo Hội gán cho các Chúa Nhật này có tầm quan trọng đặc biệt,
những ngày ưu tiên hơn tất cả những cử hành phụng vụ khác. Vì thế, các quy luật
tổng quát tuyên bố: bởi vì tầm quan trọng đặc biệt của ngày này, cử hành Chúa
Nhật chỉ dành cho lễ trọng hay lễ kính Chúa. Các Chúa nhật của Mùa Vọng, Mùa
Chay và Phục Sinh được ưu tiên trên tất cả các lễ trọng và lễ kính Chúa. Các
dịp lễ trên nếu rơi vào những Chúa Nhật này sẽ được cử hành trong các ngày thứ
7 trước đó (số 5).
6. Những gì diễn ra với các ngày trong tuần?
Các bài giảng dành cho các ngày
trong tuần của Mùa Vọng được khuyến khích đặc biệt. Quy luật tổng quát cũng chỉ
ra vai trò đặc biệt các ngày trong tuần của tuần lễ trước Giáng sinh: các ngày
trong tuần từ 17-24/12 hướng tới việc phục vụ chuẩn bị trực tiếp hơn dành cho
sinh nhật của Đức Kitô. (số 41).
Vai trò đặc biệt ấy được minh
chứng trong các bài đọc Kinh Thánh được sử dụng trong phụng vụ trong những ngày
này.
7. Các nhà thờ được trang hoàng như thế nào trong suốt Mùa Vọng?
Trong suốt Mùa Vọng, việc trang
trí hoa cho bàn thờ nên được lưu tâm bởi một sự vừa phải phù hợp với đặc tính
của thời kỳ này trong năm, không diễn tả trước niềm vui Chúa Giáng sinh. (x
GIRM 313).
8. Âm nhạc được sử dụng như thế nào trong suốt Mùa Vọng?
Trong suốt Mùa Vọng, việc sử
dụng đàn organ và những nhạc cụ khác nên được lưu tâm bởi một sự vừa phải phù
hợp với đặc tính của thời kỳ này trong năm, không diễn tả trước niềm vui Chúa
Giáng sinh. . (x GIRM 313).
9. Kinh Vinh danh có được đọc hay hát trong suốt Mùa Vọng không?
Kinh Vinh danh không được đọc
hay hát trong dịp này.
10. Những việc đạo đức riêng nào chúng ta nên thực hiện để trở nên
thiết thân với Thiên Chúa hơn trong suốt Mùa Vọng?
Có nhiều việc đạo đức khác nhau
mà Giáo Hội đã chấp nhận cho sử dụng trong suốt Mùa Vọng. Phổ biến hơn cả là
Vòng hoa mùa Vọng.
Tác giả: Jimmy Akin
Chuyển ngữ: Joseph Trần Ngọc
Huynh, S.J.
Nguồn:
http://www.ncregister.com/blog/jimmy-akin/10-things-you-need-to-know-about-advent
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
























