Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2022

SÁM HỐI VỀ VIỆC SÁM HỐI










SÁM HỐI VỀ VIỆC SÁM HỐI

 Anh chị em thân mến!

Sáng nay rất đông anh chị em trong gia đình Giáo xứ  quy tụ về đây, để tham dự ngày tĩnh tâm, chuẩn bị tâm hồn mừng các ngày lễ trọng trong Tháng ......

 Dịp tĩnh tâm tâm này còn nằm trong bầu khí của lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống mà chúng ta vừa cử hành. Vì thế, đây là dịp thuận tiện để cho Chúa Thánh Thần thổi bùng lên ngọn lửa đức tin, đức cậy và đức mến trong tâm hồn mỗi người chúng ta, như xưa Ngài đã ngự xuống trên các Tông đồ... Ước gì sau buổi tĩnh tâm này, mỗi người chúng ta cũng được tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần, nhất là ơn đổi mới tâm hồn, ơn sống lại thật về phần linh hồn.

Trong giây phút linh thánh này, chúng ta cùng cầu nguyện: Xin Trái Tim Chúa tha thứ hết mọi tội lỗi cho ta. Đồng thời xin anh chị em cũng quảng đại tha thứ cho nhau mọi lỗi lầm mà chính mình đã gây ra cho người khác, hoặc người khác đã gây ra cho mình. Cũng xin anh chị em tự tha thứ cho những lỗi lầm cắn rứt lương tâm mình bằng lòng sám hối ăn năn.

 (Mời cộng đoàn đứng, hát: Năm tháng dài êm đềm qua....”).

 NĂM THÁNG DÀI ÊM ĐỀM QUA MÀ CON KHÔNG CÓ ĐIỀU CHI DÂNG LÊN NGÀI ĐỂ GỌI LÀ ĐỀN ĐÁP TÌNH YÊU. BAO NHIÊU LẦN LẦM VỚI LỠ NAY CON ĂN NĂN HỐI HẬN MUÔN VÀN, DÁM XIN NGÀI  DỦ TÌNH THƯƠNG THA THỨ CHO CON.

1. Bao nhiêu phen ngụp lặn trong tội lỗi ê chề, nay con trở về hồn hoang sơ xác. Thì này đây con xin dâng những gì còn lại, trông mong ơn Chúa để làm lại đời con.

 2. Đêm năm xưa vì tình thương Con Chúa hiến mình, treo trên Thập hình mở nguồn ơn phúc. Thì ngày nay con xin dâng hiên cả cuộc đời, đem yêu thương nối lại tình người mọi nơi.

 3. Chung quanh con người khổ đau tha thiết van nài, xin chút thương tình hạt cơm manh áo. Vậy mà con sao đang tâm hất hủi người nghèo, sao không thương xót người bạc phận đìu hiu.

 4. Đây tim con dành để yêu thương hết mọi người, xin dâng cho Ngài nguyện xin thánh hóa. Dù từ lâu tâm can con ước mộng thật nhiều, nay tin theo Chúa vì một điều : TÌNH YÊU.

 (Mời cộng đoàn ngồi). Chúng ta cùng nhau xét mình.

 Thứ nhất: Đối với Chúa, chúng  ta cần  sám  hối về việc mình chưa sống Bí tích Giải tội. Chúng ta biết Bí Tích Giải Tội là cuộc gặp gỡ đầy tình yêu thương của Thiên Chúa đối với con người, như Lời Chúa phán: “Ta không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn” (Lc 5,32).

 Xét mình, ta thấy rất nhiều lần ta đã lợi dụng tình thương yêu của Chúa, sự tha thứ quá dễ dàng của Chúa, để ta lãnh nhận Bí tích Giải tội như một loại thuốc an thần, ru ngủ lương tâm của mình trong chốc lát, qua một cuộc lễ, rồi đâu lại vào đấy. Vũ như cẫn (vẫn như cũ). Ta không thực tình sám hối ăn năn, không thực tình thay đổi cuộc sống. Ta lại đi lên chính vết xe cũ trượt ngã của mình.

 Chúng ta nên nhớ mình là người con Chúa. Ta đã ký kết giao ước trọn đời thuộc về Chúa qua Bí tích Rửa tội. Cho nên khi ta phạm tội, thì không chỉ đơn giản là ta đã phạm một điều răn, mà còn vi phạm đến chính giao ước tình yêu, xúc phạm đến chính Thiên Chúa.

 Suy nghĩ như thế, ta mới hiểu được lý do tại sao mình phải hết sức nghiêm túc khi lãnh nhận Bí tích Giải tội, để xin ơn tha thứ: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18,13).

 Chúng ta biết rằng, Bí tích Giải tội không phải là một chiếc đũa thần để tẩy trừ tội lỗi, cũng không phải là một thứ bột giặt để tẩy trắng chiếc áo dơ bẩn. Nhưng Bí tích Giải tội là khởi đầu của một quá trình đổi mới toàn diện đời sống. Trong đó có ơn Chúa trợ giúp và sự cố gắng hoán cải từng ngày của chính bản thân, như Lời Chúa nói: “Con hãy về và đừng phạm tội nữa” (Ga 8,11).

Xét mình như vậy, ta mới khám phá ra điều này là: Rất nhiều lần mình đã xúc phạm đến Chúa, nhất là đã không lãnh nhận và sống Bí tích Giải tội một cách xứng đáng. Vì thế, xưa nay ta chẳng thay đổi đời sống được bao nhiêu, mặc dù ta vẫn xưng tội, vẫn rước lễ hằng ngày. Xưa kia, Chúa đã tha cho Phêrô có một lần; và đời Phêrô đã đổi thay hoàn toàn. Còn mình, thì Chúa tha bao nhiêu lần rồi? Anh chị em có nhớ hết không?

 Xưng tội mà không thay đổi đời sống là ta đã làm cớ vấp phạm cho nhiều người, nhất là cho giới trẻ. Họ nhìn vào cách sống đạo của người lớn chúng ta, họ không thấy ta thay đổi gì hết, ta không sống tốt hơn trước, ta sống nửa vời.... Nên giới trẻ vịn vào lí do đó mà không còn tin vào các Bí Tích. Cụ thể là họ không còn siêng năng đến với Bí Tích Giải Tội nữa. Họ bảo nhau rằng: “Xưng tội cũng vậy, mà không xưng cũng vậy. Cuộc sống có khác gì đâu!” Chúng ta hãy hết sức thành tâm xin lỗi Chúa về điều ấy.

(Thinh lặng giây lát, xét mình).

 LINH MỤC: Lạy Chúa, Chúa đã được sai đến để cứu chữa những tâm hồn thống hối. Xin Chúa thương xót chúng con

CỘNG ĐOÀN: Xin Chúa thương xót chúng con.

 Thứ hai: Đối với anh chị em, chúng ta cần sám hối về những điều mình đã xúc phạm đến nhau. Khi ta phạm tội, ngoài việc mình xúc phạm đến giao ước tình yêu của Thiên Chúa, ta còn làm tổn thương đến sự thánh thiện của Giáo hội nữa. Bởi vì khi ta lãnh nhận Bí tích Rửa tội, thì không phải chỉ bản thân ta tin vào Chúa, mà ta còn trở thành thành viên trong đại gia đình Hội thánh Chúa.

Giữa các thành viên trong gia đình này luôn có một sự liên kết hết sức mật thiết và chặt chẽ với nhau. Mật thiết và chặt chẽ đến độ thánh Phaolô đã dùng hình ảnh thân xác mình để diễn tả: “Anh em là chi thể trong Nhiệm Thể Chúa Kitô” (1Cr 13,27). Vì thế một ngón tay đau thì cả thân mình cũng đau. Một cái răng nhức cũng khiến cả thân mình đau đớn, nóng lạnh.

 Tương tự như thế, chúng ta là chi thể trong thân mình Hội thánh. Nếu ta sống thánh thiện đạo đức, thì sẽ có ảnh hưởng tốt đến tất cả mọi chi thể trong Nhiệm Thể Chúa Kitô. Ngược lại, nếu ta phạm tội, ta sẽ làm tổn thương đến sự thánh thiện của nhau, của cả Hội thánh.

Hơn nữa, hầu hết những tội ta phạm đều trực tiếp đụng chạm, gây thiệt hại, gây khổ đau tinh thần hay vật chất cho những người cùng sống với mình. Họ là xóm giềng, đồng nghiệp, bạn bè, gia đình và những người ta thường tiếp xúc... Thế nhưng, sau khi phạm tội, ta thường chỉ xin lỗi Chúa, mà quên xin lỗi người anh chị em.

 Tội phạm thì công khai, nhiều người biết; nhưng lại chỉ xưng thú một cách bí mật. Làm thiệt hại danh dự hay vật chất cho người khác mà không lo sửa chữa, hay đền bù cách cụ thể. Ta cần xem xét lại vấn đề này, để lương tâm mình được thanh thỏa trước mặt Chúa và trước mặt nhau

 Vì thế ta cần đến với Chúa qua Bí tích Giải tội, nhưng sau đó ta cũng phải đến với anh chị em của mình với cả tấm lòng khiêm tốn và thiện chí muốn hối cải, muốn ăn năn và sẵn sàng bù đắp những sự thiệt hại về tinh thần hay vật chất mà mình đã gây ra cho họ. Thánh Gioan bảo: “Nếu ai nói: Tôi yêu mến Chúa mà lại không yêu thương anh em mình, thì người ấy là kẻ nói dối” (1Ga 1,20).

 Thế mới biết, rất nhiều lần chúng ta đã xúc phạm đến nhau và chưa thật lòng tha thứ cho nhau, chưa thật lòng bù đắp thiệt hại cho nhau. Bồi thường về vật chất xem ra còn dễ thực hiện, nhưng bồi thường danh dự là chuyện rất khó làm. Nhưng dù khó đến mấy, thì ta cũng phải làm. Không làm đời này thì đời sau cũng phải đền trả. Có khi còn khổ đời đời nữa. Chúng ta xin lỗi Chúa, và xin anh chị em trong gia đình Giáo xứ cũng rộng lượng tha thứ cho chúng ta. Phần ta, hãy quyết tâm đền bù cho cân xứng.

 (Thinh lặng giây lát, xét mình).

 LINH MỤC: Lạy Chúa Kitô, Chúa đã đến kêu gọi những người tội lỗi. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

 CỘNG ĐOÀN: Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

 Thứ ba: Đối với xã hội, chúng ta cần sám hối về những điều thiếu sót. Sám hối và hòa giải là những yêu cầu rất khắt khe đối với bản thân mỗi người, để có thể trở nên người con của Chúa. Sám hối là dịp để mỗi người nhìn lại bản thân mình. Qua đó, ta điều chỉnh tư tưởng, lời nói, việc làm của mình, sao cho hợp với Thánh ý Chúa.

 Chúa đã dạy: “Điều gì các con không làm cho người anh em bé mọn của Ta, là các con không làm cho Ta” (Mt 25,45). Khi đi xưng tội, sự thường ta chỉ sám hối về những tội lỗi mình đã phạm, dựa vào Mười Điều Răn của Chúa, Sáu Điều Luật Hội Thánh, hay Bẩy Mối Tội Đầu... Nhưng chẳng mấy khi ta đau buồn, hay xưng thú những gì mình phải làm mà đã không làm; những cơ hội phục vụ mà mình đã bỏ qua; những lần tiếng Chúa thúc đẩy mà mình đã từ chối. Kinh Thánh kể:

 Ông nhà giàu kia có của ăn của để, nhưng không giúp cho Lagiarô được xóa đói giảm nghèo, nên ông đã bị quăng xuống hỏa ngục (Lc 16, 19-31).

 Thầy Tư Tế và Lêvi kia lên đền thờ dâng lễ, gặp người bị nạn dọc đường, họ không ở lại chăm sóc thuốc men, hay chở nạn nhân về trạm xá, nên họ đã bị Chúa lên án (Lc 10, 29-37).

 Người đầy tớ kia được chủ tín nhiệm giúp vốn cho một nén bạc. Nhưng anh đã lười biếng không chịu cố gắng làm ăn vươn lên, để làm giàu cho mình và bớt gánh nặng cho xã hội, nên anh đã bị ném vào ngục tối (Mt 25, 14-30).

 Hôm nay, nếu cần một thí dụ, có lẽ Chúa sẽ lấy chính bản thân ta mà nói. Ngài cũng khiển trách ta như Ngài đã khiển trách ông nhà giàu, khiển trách Thầy Tư tế, Lêvi, khiển trách người đầy tớ bất trung xưa kia.

 Và còn biết bao những thiếu sót trong bổn phận của ta đối với gia đình. Chẳng hạn như: thiếu trách nhiệm làm cha mẹ, vợ chồng; thiếu sự tôn kính, vâng lời, nhường nhịn lẫn nhau… Nhiều lắm, kể sao xiết!

 Ta cũng có những thiếu sót trong bổn phận đối với chính bản thân mình, như: ta thiếu trau dồi nhân bản, tri thức và đạo đức; thiếu làm gương sáng...

 Ngoài ra ta còn có những thiếu sót đối với xã hội, như chưa đồng hành với mọi người; chưa lo cái lo của mọi người phải lo; chưa làm cái mọi người nên làm, để cùng đồng hành với đồng bào mình, cụ thế là lo cho thôn ấp mình, lo cho Giáo xứ mình mỗi ngày được tốt đẹp hơn.

Xét mình kỹ, ta sẽ nhận ra: Rất nhiều lần ta đã xúc phạm đến nhau, trong tư tưởng, lời nói, việc làm và nhất là những điều thiếu sót. Chúng ta thành tâm xin lỗi Chúa. Đồng thời cũng xin mọi người tha thứ cho ta. Để từ nay ta quyết tâm làm mới lại cuộc đời, nhất là tránh những gì còn thiếu sót.

 (Thinh lặng giây lát, xét mình).

 LINH MỤC: Lạy Chúa, Chúa ngự bên hữu Đức Chúa Cha để chuyển cầu cho chúng con. Xin Chúa thương xót chúng con.

 

CỘNG ĐOÀN: Xin Chúa thương xót chúng con.

(Mời cộng đoàn đứng, đọc kinh Tôi thú nhận”).

LINH MỤC:  Xin Thiên Chúa Toàn Năng thương xót tha tội và dẫn đưa chúng ta về cõi trường sinh.

 CỘNG ĐOÀN: Amen.

 Kết thúc giờ Tĩnh Tâm, hát: “Nguyện Chúa chí ái.

NGUYỆN CHÚA CHÍ ÁI HÃY LẮNG NGHE LỜI CHÚNG CON. RỦ TÌNH THƯƠNG XEM, VÌ CHÚNG CON PHẠM ĐẾN NGƯỜI.

1. Dòng suối lệ tuôn mãi, đoàn chúng con hướng lên Người, lạy Chúa đầy vinh quang, nguyện thương đến lời van nài.

2. Người chính đường sinh phúc, là cánh tay Chúa uy quyền. Chìa khóa trời cao quang nguyện thương xóa sạch lỗi lầm.

3. lạy Chúa Trời cao sáng nguyện đoái thương lắng nghe lời. Lòng Chúa đầy khoan dung, hằng tha thứ ngàn lỗi lầm.

4. Này cõi lòng nhơ uế, tội ác che lấp tâm thần. Cầu Chúa Trời khoan nhân rửa cho tuyết trinh trắng ngần.

GIỜ ĐÂY, CÙNG VỚI ƠN CHÚA GIÚP, 

TA THINH LẶNG XÉT MÌNH, ĂN NĂN TỘI, 

XƯNG TỘI VÀ ĐỀN TỘI CHO CÂN XỨNG.

 

 

 

 

Thứ Tư, 3 tháng 8, 2022

THỰC HIỆN NẾP SỐNG VĂN MINH TRONG VIỆC CƯỚI—VIỆC TANG—LỄ HỘI



Theo hướng dẫn của giáo phận, các bữa tiệc cần được tổ chức làm nổi bật 5 vẻ đẹp:

vẻ đẹp đạo đức,

vẻ đẹp bác ái,

vẻ đẹp hiệp nhất,

vẻ đẹp truyền thống, và

vẻ đẹp giản đơn.

Chính trong vẻ đẹp này, chúng ta đang giới thiệu Tin Mừng Chúa hiện diện với khuôn mặt

VUI TƯƠI, HIẾU KHÁCH, và CHÚC PHÚC.

 


THỰC HIỆN NẾP SỐNG VĂN MINH TRONG

VIỆC CƯỚI—VIỆC TANG—LỄ HỘI

 

Quy định về việc thực hiện nếp sống văn minh

trong việc cưới việc tang và lễ hội

 

BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

Số: 04/2011/TT-BVHTTDL

 

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 21 tháng 01 năm 2011

 

THÔNG TƯ

Quy định về việc thực hiện nếp sống văn minh trong

việc cưới, việc tang và lễ hội

__________________________

Căn cứ Nghị định số 185/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch;

 

Căn cứ Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng;

 

Căn cứ Nghị định số 75/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa;

 

Căn cứ Chỉ thị số 14/1998/CT-TTg ngày 28 tháng 3 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội;

 

Căn cứ Quyết định số 308/2005/QĐ-TTg ngày 25 tháng 11 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội;

 

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quy định về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội như sau:

 

Chương I

 

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

 

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Thông tư này quy định về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội được tổ chức trong phạm vi cả nước.

2. Thông tư này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia vào việc cưới, việc tang và lễ hội tại Việt Nam.

Điều 2. Những nguyên tắc trong tổ chức việc cưới, việc tang và lễ hội

Tổ chức, cá nhân khi tổ chức việc cưới, việc tang và lễ hội phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

1. Không trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc; không để xảy ra các hoạt động mê tín dị đoan.

2. Không lợi dụng việc cưới, việc tang và lễ hội để hoạt động nhằm chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất đoàn kết trong cộng đồng, dòng họ và gia đình.

3. Không làm ảnh hưởng đến an toàn giao thông và trật tự, an toàn công cộng.

4. Không tổ chức hoặc tham gia đánh bạc dưới mọi hình thức.

5. Không được sử dụng thời gian làm việc và phương tiện của cơ quan đi đám cưới, lễ hội (trừ cơ quan làm nhiệm vụ); không sử dụng công quỹ của cơ quan làm quà mừng, quà tặng trong đám cưới và viếng đám tang.

 

Chương II

 

NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ

Mục 1:

NẾP SỐNG VĂN MINH TRONG VIỆC CƯỚI

Điều 3. Tổ chức việc cưới

Việc cưới phải được tổ chức theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch và các quy định pháp luật khác có liên quan.

 

Điều 4. Đăng ký kết hôn

1. Đôi nam nữ để trở thành vợ chồng phải đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai người theo quy định của pháp luật.

2. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức việc đăng ký kết hôn theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

 

Điều 5. Trao giấy chứng nhận kết hôn

Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm tổ chức trao giấy chứng nhận kết hôn cho đôi nam nữ đã hoàn thành thủ tục đăng ký kết hôn, thể hiện sự thừa nhận kết hôn hợp pháp của Nhà nước và pháp luật.

 

Điều 6. Tổ chức lễ cưới tại gia đình hoặc tại địa điểm cưới

1. Việc tổ chức lễ cưới tại gia đình hoặc tại địa điểm cưới phải thực hiện các quy định sau:

a) Đảm bảo trang trọng, tiết kiệm, vui tươi, lành mạnh, phù hợp với phong tục, tập quán, truyền thống văn hoá của từng địa phương, dân tộc, tôn giáo và phù hợp với hoàn cảnh của hai gia đình;

b) Các thủ tục chạm ngõ, ăn hỏi, rước dâu cần được tổ chức theo phong tục, tập quán; không phô trương hình thức, rườm rà; không nặng về đòi hỏi lễ vật;

c) Địa điểm cưới do hai gia đình lựa chọn; thời gian tổ chức tiệc cưới không làm ảnh hưởng đến thời gian lao động của Nhà nước; chỉ mời khách dự tiệc cưới trong phạm vi gia đình, họ tộc thân thích, bạn bè và đồng nghiệp thân thiết;

d) Tổ chức tiệc cưới phù hợp với hoàn cảnh gia đình, tránh phô trương, lãng phí;

đ) Trang trí lễ cưới cần giản dị, không rườm rà, phô trương; trang phục cô dâu, chú rể đẹp và lịch sự, phù hợp với văn hoá dân tộc;

e) Âm nhạc trong đám cưới phải lành mạnh, vui tươi; âm thanh đảm bảo không vượt quá độ ồn cho phép theo tiêu chuẩn Việt Nam thực hiện tại bản tiêu chuẩn Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 2351/1998/QĐ-BKHCNMT ngày 5 tháng 12 năm 1998 của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ); không mở nhạc trước 06 giờ sáng và sau 22 giờ đêm.

 

2. Khuyến khích thực hiện các hoạt động sau trong tổ chức việc cưới:

a) Dùng hình thức báo hỷ thay cho giấy mời dự lễ cưới, tiệc cưới;

b) Hạn chế tổ chức tiệc cưới linh đình, chỉ tổ chức tiệc trà, tiệc ngọt trong lễ cưới;

c) Không sử dụng thuốc lá trong đám cưới;

d) Cơ quan, tổ chức, đoàn thể đứng ra tổ chức lễ cưới;

đ) Cô dâu, chú rể và gia đình đặt hoa tại đài tưởng niệm liệt sĩ, nghĩa trang liệt sĩ, di tích lịch sử - văn hoá; trồng cây lưu niệm tại địa phương trong ngày cưới;

e) Cô dâu, chú rể và gia đình mặc trang phục truyền thống hoặc trang phục của dân tộc mình trong ngày cưới.

 

Mục 2:

 

NẾP SỐNG VĂN MINH TRONG VIỆC TANG

 

Điều 7. Tổ chức việc tang

Việc tang phải được tổ chức theo quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch, pháp luật về bảo vệ môi trường, pháp luật về y tế và các quy định pháp luật khác có liên quan.

 

Điều 8. Khai tử

Khi có người qua đời, gia đình hoặc thân nhân phải làm thủ tục khai tử trước khi tổ chức lễ tang theo quy định của pháp luật.

 

Điều 9. Trách nhiệm tổ chức lễ tang

1. Lễ tang do gia đình người qua đời quyết định tổ chức tại nhà hoặc tại địa điểm công cộng.

2. Trong trường hợp lễ tang do Ban lễ tang tổ chức, Ban lễ tang có trách nhiệm phối hợp với gia đình người qua đời thống nhất quyết định những vấn đề liên quan đến việc tổ chức tang lễ.

3. Nếu người qua đời không có gia đình hoặc thân nhân đứng ra tổ chức lễ tang thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn phối hợp với các đoàn thể quần chúng chịu trách nhiệm tổ chức khâm liệm và mai táng chu đáo theo phong tục truyền thống.

 

Điều 10. Tổ chức lễ tang

1. Lễ tang được tổ chức tại nhà hoặc tại địa điểm công cộng phải thực hiện các quy định sau:

a) Lễ tang phải được tổ chức chu đáo, trang nghiêm, tiết kiệm, phù hợp với tập quán, truyền thống văn hoá dân tộc và hoàn cảnh gia đình người qua đời;

b) Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức lễ tang chu đáo; vận động gia đình có người từ trần xoá bỏ các hủ tục lạc hậu, các hành vi mê tín dị đoan trong lễ tang;

c) Việc quàn ướp thi hài thực hiện theo Thông tư số 02/2009/TT-BYT ngày 26 tháng 5 năm 2009 của Bộ Y tế hướng dẫn vệ sinh trong hoạt động mai táng và hỏa táng.

d) Việc mặc tang phục và treo cờ tang trong lễ tang thực hiện theo truyền thống của địa phương, dân tộc và tôn giáo; chỉ treo cờ tang tại địa điểm tổ chức lễ tang;

 

đ) Không cử nhạc tang trước 06 giờ sáng và sau 22 giờ đêm; âm thanh đảm bảo không vượt quá độ ồn cho phép theo tiêu chuẩn Việt Nam thực hiện tại bản tiêu chuẩn Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 2351/1998/QĐ-BKHCNMT ngày 5 tháng 12 năm 1998 của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ).

Trường hợp người qua đời theo một tôn giáo hoặc là đồng bào dân tộc thiểu số, trong lễ tang được sử dụng nhạc tang của tôn giáo hoặc của dân tộc thiểu số đó; không sử dụng các nhạc khúc không phù hợp trong lễ tang;

e) Cấm rải tiền Việt Nam và các loại tiền của nước ngoài trên đường đưa tang;

g) Người qua đời phải được chôn cất trong nghĩa trang; trường hợp chưa xây dựng được nghĩa trang, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm hướng dẫn nhân dân tổ chức chôn cất phù hợp với quy hoạch quỹ đất của địa phương;

h) Việc tổ chức ăn uống trong lễ tang chỉ thực hiện trong nội bộ gia đình, dòng họ và phải đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm;

i) Nghiêm cấm lợi dụng việc tang để hành nghề mê tín dị đoan dưới mọi hình thức; nghiêm cấm lợi dụng việc tang để cản trở việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân trước pháp luật.

 

2. Lễ tang của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp của Nhà nước; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang (quân đội nhân dân và công an nhân dân), khi tổ chức, ngoài việc thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này, còn phải thực hiện các quy định tại Nghị định số 62/2001/NĐ-CP ngày 12 tháng 9 năm 2001 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế tổ chức tang lễ đối với cán bộ, công chức, viên chức nhà nước khi từ trần.

 

3. Khuyến khích các hoạt động sau trong tổ chức việc tang:

a) Các nghi thức cúng ba ngày, bảy ngày, bốn chín ngày, một trăm ngày, giỗ đầu, giỗ hết, cải táng chỉ thực hiện trong ngày và trong nội bộ gia đình, dòng họ;

b) Thực hiện hình thức hoả táng, điện táng, hung táng một lần vào khu vực nghĩa trang đã được quy hoạch;

c) Việc chôn cất người qua đời thực hiện theo hướng dẫn tại Nghị định số 35/2008/NĐ-CP ngày 25 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định về xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang;

d) Xoá bỏ các hủ tục mê tín lạc hậu như yểm bùa, trừ tà, lăn đường, khóc mướn và những nghi thức rườm rà khác;

đ) Không rắc vàng mã trên đường đưa tang.

 

Điều 11. Việc xây cất mộ

1. Việc xây cất mộ phải thực hiện các quy định của Bộ Xây dựng.

2. Khuyến khích các địa phương xây dựng nghĩa trang theo quy hoạch, đảm bảo khoa học, tiện lợi cho việc chôn cất, phù hợp với quy định của pháp luật về xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang.

3. Khuyến khích việc xây dựng nghĩa trang thành công trình văn hoá tưởng niệm tại địa phương.

 

 

Mục 3:

NẾP SỐNG VĂN MINH TRONG LỄ HỘI

 

Điều 12. Tổ chức lễ hội

1. Tổ chức, cá nhân, khi tổ chức hoặc tham gia lễ hội, phải thực hiện các quy định sau:

a) Nghi thức lễ hội phải được tiến hành trang trọng, phù hợp với truyền thống văn hoá dân tộc;

b) Trong khu vực lễ hội, cờ Tổ quốc phải được treo nơi trang trọng, cao hơn cờ hội, cờ tôn giáo; chỉ treo cờ hội, cờ tôn giáo tại địa điểm lễ hội và trong thời gian tổ chức lễ hội;

c) Thực hiện đúng nội quy, quy định của Ban tổ chức lễ hội;

d) Trang phục đẹp, lịch sự, phù hợp với thuần phong mỹ tục;

đ) Không nói tục, xúc phạm tâm linh và ảnh hưởng xấu tới không khí trang nghiêm của lễ hội;

e) Bảo đảm trật tự, an ninh khi dự lễ hội; không đốt pháo, đốt và thả đèn trời;

g) Ứng xử có văn hoá trong hoạt động lễ hội;

h) Bỏ rác vào nơi quy định, giữ gìn vệ sinh môi trường;

i) Không bán vé vào dự lễ hội;

k) Nếu tổ chức các trò chơi, trò diễn, biểu diễn nghệ thuật, hội chợ, trưng bày triển lãm trong khu vực lễ hội thì được bán vé cho các hoạt động đó; giá vé thực hiện theo quy định của pháp luật về tài chính;

l) Nghiêm cấm lợi dụng lễ hội để hành nghề mê tín dị đoan như xem số, xem bói, gọi hồn, cầu cơ, sấm truyền, yểm bùa, trừ tà, phù phép chữa bệnh;

m) Không đốt đồ mã trong khu vực lễ hội.

2. Khuyến khích các hoạt động sau trong tổ chức lễ hội:

a) Tổ chức giới thiệu ý nghĩa lịch sử của lễ hội, giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc, bồi dưỡng lòng yêu quê hương, đất nước, con người Việt Nam;

b) Tưởng nhớ công đức của ông cha, ghi nhận công lao của các bậc tiền bối trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc;

 

c) Tổ chức các trò chơi dân gian, trò chơi mới và các hoạt động văn hoá, thể thao có nội dung bổ ích, lành mạnh, phù hợp với quy mô, tính chất, đặc điểm của lễ hội;

d) Thắp hương theo quy định của Ban tổ chức lễ hội.

 

Chương III

 

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

 

Điều 13. Trách nhiệm tổ chức thực hiện

 

1. Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp của Nhà nước; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp; các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang có trách nhiệm phổ biến và tổ chức thực hiện Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 12 tháng 01 năm 1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, Chỉ thị số 14/1998/CT-TTg ngày 28 tháng 3 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, Quyết định số 308/2005/QĐ-TTg ngày 25 tháng 11 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; Kết luận số 51-KL/TW ngày 22 tháng 7 năm 2009 của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 27-CT/TW ngày 12 tháng 01 năm 1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và Thông tư này tới cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ và nhân dân.

 

2. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan báo chí tổ chức tuyên truyền để tạo thành dư luận xã hội hỗ trợ tích cực việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội theo quy định tại Thông tư này.

 

3. Các Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch đặc biệt chú trọng hướng dẫn xây dựng các quy ước về việc cưới, việc tang và lễ hội phù hợp với phong tục, tập quán từng vùng, từng dân tộc; tập trung chỉ đạo điểm, rút kinh nghiệm từ những cơ sở tốt nhân ra diện rộng; gắn việc thực hiện quy ước về việc cưới, việc tang và lễ hội với xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá, cơ quan, xí nghiệp, trường học văn hoá trong phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”.

 

4. Thanh tra Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm hướng dẫn thanh tra chuyên ngành các Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch và phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm theo thẩm quyền.

 

5. Cục Văn hoá cơ sở - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm theo dõi và thường xuyên báo cáo Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về kết quả thực hiện Thông tư này; định kỳ giúp Bộ tổ chức tổng kết việc thực hiện Thông tư này trên phạm vi toàn quốc để rút kinh nghiệm, đề ra những biện pháp phù hợp cho công tác chỉ đạo trong những năm tiếp theo.

 

6. Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp của Nhà nước; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang (quân đội nhân dân và công an nhân dân) phải gương mẫu thực hiện và có trách nhiệm vận động gia đình, cộng đồng dân cư thực hiện nếp sống văn minh quy định tại Thông tư này.

 

Điều 14. Hiệu lực thi hành

1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 03 năm 2011 và thay thế Thông tư số 04/1998/TT-BVHTT ngày 11 tháng 7 năm 1998 của Bộ Văn hoá - Thông tin hướng dẫn thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội.

 

2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vấn đề phát sinh hoặc vướng mắc, đề nghị các đơn vị phản ánh về Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch để xem xét, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp./.

 

BỘ TRƯỞNG

(Đã ký)

 

Hoàng Tuấn Anh