Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2026

CN HX BÌNH AN GIỮA CHỐN PHONG BA

CN HX                                 BÌNH AN GIỮA CHỐN PHONG BA

Ngày xửa ngày xưa có một vị vua treo giải thưởng cho nghệ sĩ nào vẽ được một bức tranh đẹp nhất về sự bình an. Nhiều hoạ sĩ đã cố công vẽ những bức tranh tuyệt đẹp để trình lên vua. Nhà vua ngắm tất cả các bức tranh đó nhưng chỉ thích có hai tấm và ông phải chọn lấy một.

Một bức tranh vẽ hồ nước yên ả. Mặt hồ là tấm gương tuyệt mỹ vì có những ngọn núi cao chót vót bao quanh. Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây trắng mịn màng. Tất cả những ai ngắm bức tranh này đều cho rằng đây là một bức tranh bình an thật hoàn hảo.

Bức tranh kia cũng có những ngọn núi nhưng những ngọn núi này trần trụi và lởm chởm đá. Ở bên trên là bầu trời giận dữ đổ mưa như trút kèm theo sấm chớp. Đổ xuống bên vách núi là dòng thác nổi bọt trắng xoá. Bức tranh này trông thật chẳng bình an chút nào.

Nhưng khi nhà vua ngắm nhìn, ông thấy đằng sau dòng thác là một bụi cây nhỏ mọc lên từ khe nứt của một tảng đá. Trong bụi cây một con chim mẹ đang xây tổ. Ở đó, giữa dòng thác trút xuống một cách giận dữ, con chim mẹ đang an nhiên đậu trên tổ của mình… Bình an thật sự!

Nhà vua công bố: “Ta chấm bức tranh này! Sự bình an không có nghĩa là một nơi không có tiếng ồn ào, không khó khăn, không cực nhọc. Bình an có nghĩa ngay chính khi đang ở trong phong ba bão táp ta vẫn cảm thấy sự yên tĩnh trong trái tim. Đó mới chính là ý nghĩa thật sự của bình an”.

Sau khi Đức Giêsu chịu chết, các tông đồ sợ người Do Thái lùng bắt, nên đã trốn vào phòng, cửa đóng then cài.

Giữa cơn phong ba bão táp, Đức Giêsu sống lại, hiện ra với các ông, như chim mẹ an nhiên đậu trên tổ canh giữ bầy con, Người mang lại cho các ông sự bình an đích thực: “Bình an cho anh em!”

Bình an của Đấng Phục Sinh không phải là thứ bình an không có sóng gió. Bình an của Người là bình an trong tâm hồn. Bình an ấy không loại trừ phải đối đầu với kẻ thù. Bình an ấy giúp ta đối diện với khổ đau và nỗi chết. Chính vì thế mà sau khi trao bình an, Đức Giêsu đã cho các môn đệ “xem tay và cạnh sườn” Người.

Đó là bằng chứng của một cuộc chiến đấu đầy gian truân mà các môn đệ sẽ phải đi tới.

 “Như Chúa Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em”. Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20,21-22). Nhận được bình an, lòng tràn ngập hân hoan, các môn đệ không còn nhát sợ. Với sức mạnh của Thánh Thần các ngài mạnh dạn tung cửa ra ngoài, hiên ngang rao giảng về Đức Giêsu, Đấng đã bị người ta giết chết, nhưng Thiên Chúa đã cho Người sống lại. Người đang hiện diện sống động giữa các ngài và đang hoạt động mãnh liệt trong các ngài.

Lễ Hiện Xuống nhắc nhở người tín hữu về một Thánh Thần bình an đã hoạt động trong lòng Giáo Hội suốt hơn 2000 năm qua. Người cũng đang hiện diện trong những người đã lãnh nhận Bí tích Thêm Sức để sai họ đi làm chứng nhân cho Tin Mừng.

Làm chứng cho Tin Mừng là để Thánh Thần mở toang cánh cửa tâm hồn, không còn nhát sợ nhưng can đảm chiến đấu với thử thách, khổ đau trong cuộc sống.

Làm chứng cho Tin Mừng là để Thánh Thần dẫn dắt chúng ta đến với người nghèo khổ, bất hạnh, để tận tình yêu thương và kính trọng họ cho xứng với phẩm giá con người.

Làm chứng cho Tin Mừng là để Thánh Thần là để Thánh Thần thúc đẩy chúng ta đến với những người chưa nhận biết Chúa bằng đời sống dấn thân phục vụ trong hân hoan.

Nếu mỗi người tín hữu biết mềm mại để Thánh Thần canh tân đổi mới, nếu mỗi chúng ta biết lắng nghe tiếng nói thầm lặng nhưng mạnh mẽ của Thánh Thần, thì mọi người sẽ thấy những biến đổi kỳ diệu trên toàn thế giới.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài hãy đến như ngọn gió mát, thổi vào cuộc đời chúng con luồng sinh khí mới để cả trái đất này được thay da đổi thịt trong cùng một Thánh Thần Tình Yêu. Amen!.

Thiên Phúc

 

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2026

CN7PS CTT : "NGƯỜI GIỜI"

CN7PS CTT                                                 " NGƯỜI GIỜI"

Chúng ta vẫn thường nói với nhau: “người Giời”, nghĩa là người chẳng biết những sự gì dưới đất. Một người dường như ở cõi trên chứ không phải phàm nhân. Đó là người vô tư, vô lo thật đáng bị khiển trách.

Trong cuộc thi Hoa hậu Đại Dương vừa diễn ra tối 25/5 tại Bình Thuận, thí sinh Phan Thị Thu Phương (SBD 18) đã phát biểu: “Khi biết về việc Trung Quốc đặt giàn khoan Hải Dương tại vùng biển Việt Nam mình, em cảm thấy rất là bức xúc, nó xâm phạm về lãnh thổ, về vùng kinh tế của đất nước Việt Nam mình. Em muốn người Trung Quốc hãy mở giàn khoan đó ra, và để cho đất nước Việt Nam của em ngày càng xinh đẹp hơn”.

Trước câu trả lời thiếu sự hiểu biết khi muốn người Trung Quốc mở giàn khoan để đất nước Việt Nam xinh đẹp hơn của thí sinh Thu Phương đã khiến khán giả có mặt trực tiếp xem cuộc thi không khỏi bật cười. Và câu ứng xử này của thí sinh Hoa hậu Đại Dương đã nhanh chóng lan truyền trên các trang mạng xã hội.

Nhiều người đã tỏ ra bức xúc trước sự việc đang là tâm điểm của Quốc gia, được đưa tin trên hàng trăm phương tiện truyền thông mỗi ngày mà thí sinh Hoa hậu Đại Dương lại tỏ ra kém hiểu biết. Đúng là người “Giời”!

Cuộc đời người tín hữu luôn ước ao những sự trên trời nhưng không bao giờ quên bổn phận với gia đình, với quê hương đất nước. Người tín hữu càng không thể bàng quan trước những thăng trầm của cuộc đời, trước những vận mệnh của quê hương. Cuộc đời người Kitô phải biết dấn thân cho dân tộc khi cần tựa như thánh Gióng biết đứng lên khi đất nước lâm nguy.

Truyện xưa kể rằng: vào đời Hùng Vương thứ 6, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm làm ăn và có tiếng là phúc đức. Hai ông bà ao ước có một đứa con. Một hôm bà ra đồng trông thấy một vết chân to quá, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử để xem thua kém bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà thụ thai và mười hai tháng sau sinh một thằng bé mặt mũi rất khôi ngô. Hai vợ chồng mừng lắm. Nhưng lạ thay! Đứa trẻ cho đến khi lên ba vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy.

Bấy giờ có giặc Ân đến xâm phạm bờ cõi nước ta. Thế giặc mạnh, nhà vua lo sợ. Bèn truyền cho sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi cứu nước. Đứa bé nghe tin, bỗng dưng cất tiếng nói: “Mẹ ra mời sứ giả vào đây”. Sứ giả vào, đứa bé bảo: “Ông về tâu vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này”.

Sứ giả trình với nhà vua và được ưng thuận.

Sau hôm gặp sứ giả, chú bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc xong đã căng đứt chỉ. Hai vợ chồng làm ra bao nhiêu cũng không đủ nuôi con, thành thử phải chạy nhờ bà con, hàng xóm. Bà con đều vui lòng gom góp gạo thóc nuôi chú bé, vì ai cũng mong chú giết giặc, cứu nước.

Khi giặc Ân đến. Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. Tráng sĩ bước lên vỗ vào mông ngựa. Ngựa hí dài mấy tiếng vang dội. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc, đón đầu chúng đánh giết hết lớp này đến lớp khác, giặc chết như rạ. Bỗng roi sắt gẫy. Tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ. Đám tàn quân giẫm đạp nhau chạy trốn, tráng sĩ đuổi đến chân núi Sóc. Thánh Gióng về nhà dập đầu lạy mẹ, tạ ơn công nuôi dưỡng sinh thành rồi lên đỉnh núi cởi giáp sắt bỏ lại, cả người lẫn ngựa từ từ bay về trời…

Có một người đã về Trời thực sự. Ngài từ Trời mà đến và sau khi hoàn tất sứ mạng Ngài đã trở về Trời trong vinh quang. Sự kiện Chúa Giêsu về Trời hôm nay không phải là một truyền thuyết mà là một sự kiện lịch sử. Vì Chúa Giêsu là người thật. Chính Ngài đã trải qua những thăng trầm bể dâu đời người. Ngài đã đi qua kiếp người với gió mưa, nắng bụi… Ngài thực sự là Thiên Chúa xuống trần gian để cứu chúng sinh. Qua cái chết Ngài đã đánh bại tử thần để mở cửa trời đưa con người về với Thiên Chúa. Và sau khi kết thúc cuộc đời trần thế trong việc chu toàn sứ mạng của mình, Ngài đã được đưa về Trời trước sự chứng kiến của các môn đệ, và trong sự nuối tiếc vì kẻ ở người đi nơi các môn đệ.

Hôm nay chúng ta mừng Chúa về Trời. Mừng cuộc chiến thắng khải hoàn của Chúa. Mừng Chúa đã hoàn tất cuộc đời trần thế của mình trong vâng phục thánh ý Chúa Cha và thi hành thánh ý trọn vẹn. Sứ vụ của Chúa đến trần gian giúp con người đánh bại tử thần, và mang lại quyền làm con cái Thiên Chúa cho con người. Sự kiện Chúa về Trời cũng mở ra cho chúng ta một niềm hy vọng sau những bể dâu cuộc đời chúng ta cũng có một bến bờ yên bình hạnh phúc là quê Cha trên Trời. Chúa về Trời cho chúng ta quyền hy vọng sẽ được lên trời với Chúa nếu biết đi trên con đường của Chúa. Con đường của hy sinh phục vụ. Con đường dấn thân cứu đời. Con đường sống vì lợi ích của tha nhân.

Cuộc đời của mỗi con người đều gắn với một sứ mạng phải hoàn thành, một công việc để thi hành. Đó chính là bổn phận mà Chúa đã trao cho mỗi người chúng ta khi bước vào trần thế. Xin cho chúng ta luôn biết kiên nhẫn chu toàn bổn phận Chúa trao. Xin cho chúng ta luôn theo gương Chúa Giêsu tìm kiếm và thi hành thánh ý Chúa Cha. Xin đừng vì những đam mê trần thế mà bỏ bê bổn phận của người con với Cha trên trời. Amen.

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

CN 6 PSA : HIỆN DIỆN CỦA KẺ VẮNG MẶT

CN 6 PSA                                         HIỆN DIỆN CỦA KẺ VẮNG MẶT

Có một nhà chuyên môn sưu tầm các loài bướm. Ngày nọ, khi bước vào một công viên, ông đã gặp tổ kén lạ. Ông liền bứt cành cây đem kén bướm về nhà. Ít ngày sau, ông thấy nhúc nhích bên trong kén, nhưng con bướm vẫn chưa phá kén bay ra.

Hôm sau, kén lại nhúc nhích, nhưng chẳng có gì khác lạ. Lần thứ ba, vẫn thấy như trước, ông liền lấy giao rạch kén, thế là con bướm bò ra ngoài. Tuy nhiên, bướm không tăng trưởng và chẳng bao lâu thì chết.

Sau này, ông được người bạn là nhà sinh vật học cắt nghĩa như sau: Thiên nhiên đã xếp đặt cho con bướm phải đấu tranh mới thoát ra khỏi cái kén, vì nhờ đấu tranh gian khổ mà nó có thể phát triển mạnh mẽ để sinh tồn.

Muốn làm cánh bướm bay trên ngàn hoa rực rỡ, bướm phải làm kiếp sâu lặng lẽ, cô tịch trong vỏ kén lặng lờ, khuất nẻo. Muốn là con bướm bay trong bầu trời xanh ngắt, bướm phải là con sâu đen đủi xấu xa, vặn vẹo đau đớn trong tổ kén đợi chờ.

Để trở nên những tín hữu Kitô vững mạnh, tăng triển về đường thiêng liêng, chúng ta phải trải qua một thời kỳ gian khổ để tiến triển về mặt tâm linh, chúng ta cũng phải vượt qua đấu tranh thử thách. Nhưng trong những thời điểm ấy, Thiên Chúa luôn bên cạnh chúng ta, cho dù chúng ta không nhìn thấy Người.

Lúc sắp sửa ra đi, để trấn an các tông đồ, Đức Giêsu đã hứa rằng, dù vắng mặt, nhưng Người vẫn luôn hiện diện giữa các ông và ban bình an cho các ông. Sự hiện diện của kẻ vắng mặt! Đó là cảm nghiệm mà chỉ có những kẻ yêu nhau mới nhận ra mà thôi. Từ sau biến cố Phục Sinh, Đức Giêsu đã trở nên con người của mọi thời đại.

Người hiện diện trong những kẻ yêu mến Người: “Ai yêu mến Thầy, Cha của Thầy và Thầy sẽ đến ở lại với người ấy” (Ga 14, 23).

Người hiện diện trong những kẻ thực hành và giữ lời Người: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy... Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy” (Ga 23, 24).

Người hiện diện không chỉ đơn độc, nhưng là hiện diện cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Cả Ba Ngôi cùng đến thăm và ở lại trong những ai yêu mến Đúc Giêsu và tuân giữ lời Người.

Nếu Chúa Cha chính là Thiên Chúa trong tình trạng vô hình, thì Đức Giêsu cũng là Thiên Chúa đã hiện diện, nói năng, hành động để cứu chuộc con người; và Thánh Thần cũng là Thiên Chúa, Đấng kéo dài cách thiêng liêng sự hiện diện, lời nói và hành động của Đức Giêsu và Chúa Cha.

Vì thế, Thánh Thần sẽ thông truyền trọn vẹn sự sống của Thiên Chúa cho con người, khi soi sáng dạy dỗ con người dần dần hiểu Lời Thiên Chúa, Lời đó chính là Đức Giêsu, Ngôi Lời của Chúa Cha: “Thánh Thần sẽ dạy cho anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga 14, 26).

Với lời hứa này, kể từ ngày lễ Hiện Xuống đầu tiên, Thánh Thần đã soi sáng và hướng dẫn Giáo Hội hiểu thấu triệt Lời Chúa trong Kinh Thánh, để trình bày một cách sáng tỏ hơn, và để giải quyết những vấn đề mới mẻ cho từng thời đại. Vì thế mà các Cộng Đồng liên tiếp được triệu tập dưới sự bảo trợ của Thánh Thần.

Lạy Chúa Ba Ngôi, xin cho chúng con nhận ra sự hiện diện của Người trong lòng chúng con, trong lòng Giáo Hội, và trong lòng thế giới:

Để chúng con luôn yêu mến và tuân giữ Lời Người.

Để chúng con được soi sáng và hướng dẫn bởi Thánh Thần.

Và để chúng con được canh tân và tái tạo mỗi ngày trong Thiên Chúa Tình Yêu. Amen.

 

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2026

CN 6 PSA : BỪNG LÊN SƯ SỐNG MỚI

CN 6 PSA                                   BỪNG LÊN SƯ SỐNG MỚI

Câu lạc bộ “bạn giúp bạn” hình thành tại Sài gòn năm 1996, do bác sĩ Nguyễn Bửu Hiền điều hành với 6 thành viên đều đã nhiễm HIV. Những “người bạn” này tự suy nghĩ: Cuộc đời mình dù đã tới dấu chấm hết, nhưng vẫn còn có thể có ích cho xã hội, họ đã dấn thân phục vụ bằng những việc đơn giản như an ủi, động viên và chăm sóc các bệnh nhân khác để chính họ cũng sẽ tìm thấy ý nghĩa cuộc đời.

Hiện nay, câu lạc bộ “bạn gíup bạn” đã có khoảng 500 thành viên tỏa mạng lưới ở khắp quận huyện. Ban điều hành gồm 12 người, trong đó có 3 người Công giáo, riêng nữ tu Trần Thị Kim Loan, dòng Đa minh Tam Hiệp là phó chủ nhiệm phụ trách hoạt động xã hội và tham vấn cho người nhiễm HIV. Trụ sở đặt tại 43 đường Lam Sơn, quận Bình Thạnh.

Chị Kim Loan kể lại một kỷ niệm về một nhạc sĩ mất vào tháng 8 năm 1998. Trước đó, anh đã xin được chịu Bí tích Thánh Tẩy với một Đức Tin mạnh mẽ: “Mỗi lần cùng với tôi ra vào bệnh viện Nhiệt Đới ở Chợ Quán, khi ngang qua tượng đài Đức Mẹ, anh thường đề nghị dừng lại cầu nguyện. Khi trước, mỗi đêm chơi nhạc, được bao nhiêu tiền anh đều phung phí hết. Bây giờ, anh đưa hết cho tôi vì muốn góp một phần khiêm tốn cho những bệnh nhân nghèo. Chính việc này đã giúp anh tìm thấy ý nghĩa cuộc đời còn lại, và anh đã ra đi bình an trong tình yêu của Chúa”.

Đứng trước căn bệnh thế kỷ đầy nghiệt ngã, người nhạc sĩ này vẫn mang một phong thái an nhiên tự tại, chính là vì anh đã biết thoát ra khỏi nỗi đau của mình để hôn lên nỗi đau của kẻ khác. Anh dường như đã chết đi mà nay được sống lại, chỉ vì anh không còn loay hoay với nỗi bận tâm về mình, nhưng lại biết chia sẻ với nỗi đau của những con người bất hạnh hơn anh.

Kitô hữu là người tin vào Đấng đã chết và đã sống lại. Đấng đang sống sự sống tràn đầy sung mãn của Thiên Chúa, và Người mời gọi các tín hữu hãy ở lại trong Người cũng là ở trong Cha:

“Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em” (Ga 4,20). Chính khi hiện diện một cách thâm sâu trong cung lòng của Thiên Chúa mà người tín hữu nhận được sự sống mãnh liệt phong phú của Đấng Phục sinh: “Vì Thầy sống và anh em cũng sẽ sống” (Ga 14,19). Thánh Phaolo đã cảm nghiệm rất sâu sắc về sự sống mới này khi Người viết: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).

Sức sống dồi dào ấy chỉ có thể phát huy và tăng trưởng đến mức sung mãn, là khi người tín hữu dám bước ra khỏi cuộc sống co cụm, ích kỷ của mình, để ôm lấy bao nỗi khốn khổ bất hạnh của anh em. Có yêu thương là có Chúa tỏ mình, có Chúa tỏ mình là có sức sống mới sẽ bùng lên, tuôn trào: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy” (Ga 14,21).

Nếu con người ngày nay muốn kéo dài sự sống, thì người tín hữu phải cho họ thấy đời sống trường thọ chỉ có ý nghĩa khi người ta biết sống đời phục vụ trong yêu thương.

Nếu con người ngày nay thích tiện nghi sung túc, thì người tín hữu hãy chứng minh cho họ rằng cuộc sống càng bớt hưởng thụ thì đời sống càng lành mạnh, thanh thoát.

Nếu con người ngày nay lo bảo đảm cho cuộc sống, thì người tín hữu hãy giới thiệu cho họ cái bảo hiểm an toàn nhất là sự sống Nước Trời.

Lạy Chúa xin tỏ mình ra cho chúng con, để chúng con được kiên vững giữa sóng gió cuộc đời. Xin ban sự sống Chúa cho chúng con, để cây đời chúng con mãi xanh tươi. Xin ban Thánh Thần cho chúng con, để cuộc đời chúng con bùng lên sự sống mới. Amen.

 

 

CN 6 PSA : MỐI TÌNH CHÂU LONG

CN 6 PSA                                                MỐI TÌNH CHÂU LONG

Chuyện cổ tích Việt Nam kể rằng: Có đôi bạn chí thân là Lưu Bình và Dương Lễ. Lưu Bình cùng họ với Lưu Linh. Ham chơi hơn ham học. Dòng dõi giầu sang phú quý nhưng lêu lổng ăn chơi trác táng. Dương Lễ nhà nghèo nhưng ham học. Lấy đèn sách làm thú vui. Nhờ chí thú học hành mà Dương Lễ đã đỗ trạng nguyên làm quan lớn triều đình. Ngược lại, Lưu Bình vì ham chơi nên công không thành và danh thì bại. Thân xác tiều tuỵ và đói khổ bần hàn. Dương Lễ nhìn cảnh bạn sa cơ thất thế nên động lòng trắc ẩn, dầu vậy, bên ngoài ông vẫn làm như không nhìn nhận tình bạn. Ông đã ngầm cho vợ là Châu Long giả dạng là người con gái đến giúp Lưu Bình làm lại cuộc đời. Châu Long đã theo lời chồng đến ở với Lưu Bình để động viên, giúp đỡ Lưu Bình. Nhờ đó mà Lưu Bình đã cố gắng ăn học và sau này cũng thành tài. Về phần Châu Long tuy sống với Lưu Bình nhưng lại không thuộc về Lưu Bình. Nàng vẫn thuộc về Dương Lễ. Nàng vẫn phải trung thành tuyệt đối với Dương Lễ. Cho dù Lưu Bình đã nhiều lần đề nghị nàng kết mối duyên tình, nhưng nàng đã khéo léo từ chối. Nàng khuyên nhủ Lưu Bình hãy chuyên chăm học hành để công thành danh toại mới tính đến chuyện trăm năm. Cho đến khi Lưu Bình thi đỗ mới vỡ lẽ ra: Châu Long chính là vợ của bạn được gởi đến để giúp đỡ mình.

Cuộc đời Kitô hữu chúng ta cũng giống như nàng Châu Long. Sống giữa thế gian để canh tân đổi mới thế gian nhưng không thuộc về thế gian. Sống giữa thế gian nhưng phải trung thành với thầy Chí Thánh Giêsu. Không để lòng mình buông theo những cám dỗ tội lỗi, những thói đời điêu ngoa, những đam mê thấp hèn. Trong kinh lạy Cha, Chúa Giêsu cũng dạy chúng ta: Hãy xin cùng Chúa Cha gìn giữ chúng ta khỏi sa chước cám dỗ và gìn giữ chúng ta khỏi mọi sự dữ. Chúa không bảo chúng ta xin cùng Chúa Cha cất nhắc chúng ta ra khỏi thế gian, nhưng vẫn ở giữa thế gian, đồng thời vẫn phải trung tín với Chúa. Như Châu Long sống với Lưu Bình để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Dương Lễ đã trao.

Có thể nói, Châu Long phải có một tình yêu thật cao cả, thật thuỷ chung lắm mới có thể sống với Lưu Bình mà vẫn giữ trọn giao ước với Dương Lễ. Người Kitô hữu cũng phải có một tình yêu thật thâm sâu với Thiên Chúa mới có thể tuân giữ giới răn Chúa khi sống giữa thế gian đầy mời mọc hấp dẫn luôn lôi kéo con người bất trung, phản bội với Chúa. Vâng, chúng ta đang ở giữa một thế gian đầy gian tà, một thế gian sa đoạ, tội lỗi, người ky-tô hữu phải có một tình yêu sắt son trung kiên mới có thể giữ lòng thanh khiết như đoá sen “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.

Lời Chúa hôm nay cũng căn dặn chúng ta: “Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hãy giữ lời Thầy”. Như thế, tuân giữ giới răn Chúa là dấu chỉ cho lòng yêu mến Chúa. Tuân giữ giới răn Chúa còn là dấu chỉ sự trung tín và chu toàn bổn phận của Chúa giữa thế gian. Không thể nói rằng mình yêu mến Chúa mà lại không dám thực thi lời Chúa. Nếu chúng ta nói yêu mến Chúa mà không dám sống đạo và giữ đạo, đó chỉ là sự giả tạo vì Chúa đã từng trách rằng: “Dân này chỉ thờ Ta bằng môi bằng miệng mà lòng chúng lại xa cách Ta”. Tuân hứa giới răn Chúa không chỉ dừng lại trên môi miệng mà còn là một dấn thân để ý Chúa được thể diện trong cuộc đời chúng ta. Như Chúa Giêsu, ngài đã vâng phục thánh ý Chúa Cha cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên cây thập tự. Người Kitô hữu cũng phải vâng phục theo giáo huấn của Chúa, cho dẫu có phải chịu thiệt thòi, mất mát hay phải hy sinh cả tính mạng vì lòng yêu mến Chúa.

Nhìn vào thế gian hôm nay với bao nhiêu cám dỗ mời mọc, bao nhiêu cạm bẫy rình chờ, khiến đức tin của chúng ta đã nhiều lần chao đảo, muốn buông xuôi theo cám dỗ của tiền tài, danh vọng và thú vui thể xác. Giữa một thế giới có quá nhiều cám dỗ hưởng thụ, làm sao chúng ta có thể trung thành với Chúa? Có lẽ vì nguyên nhân đó, mà Chúa Giêsu đã hứa ở cùng chúng ta, đồng thời, ngài còn ban Thần Khí đến cho chúng ta. Ngài sẽ an ủi khi chúng ta gặp u buồn. Ngài sẽ soi sáng khi lòng trí chúng ta gặp hoang mang, lo lắng. Ngài sẽ nâng đỡ khi bước đường chúng ta gặp gian nan. Ngài sẽ ban sức mạnh khi chúng ta cần sức mạnh để vượt qua cám dỗ tội lỗi và làm lại cuộc đời. Ngài sẽ ban cho chúng ta những ơn cần thiết để chúng ta hoàn thành sứ mạng cuộc đời như một tôi tớ trung tín và khôn ngoan, vì Chúa đã hứa hằng: “Ơn Ta đủ cho người và quyền năng Ta hiển trị nơi sự yếu hèn của con”.

Nguyện xin Chúa Kytô Phục sinh luôn đồng hành với chúng ta và chúc lành cho cuộc đời chúng ta luôn bình an để chúng ta mãi trung thành với Chúa. Amen.

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

 

 

 

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2026

PHỤNG VỤ CHƯ THÁNH THÁNG NĂM

PHỤNG VỤ CHƯ THÁNH THÁNG NĂM

 Ngày 01 Tháng Năm

Thánh Giuse Thợ

 

Trước khi trở thành lễ lao động tại Âu Châu, ngày 01 tháng 5, từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, đã được ghi dấu bằng những phong trào tranh đấu để nâng cao đời sống thợ thuyền. Giáo Hội đã lắng nghe tiếng kêu cứu ấy. Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII và Piô XI đã mở ra những chân trời mới trong thế giới cần lao. Sau cùng đức Piô XII đã muốn nhuộm thắm ngày hôm nay với màu sắc Kitô Giáo, dưới sự che chở của thánh Giuse thợ. Ngài không phải chỉ là một người thợ mộc Nagiareth, mà còn là một mẫu gương sáng chói cho chúng ta noi theo; suốt ba năm trường, ngài đã làm việc cho Chúa Giêsu và trong sự thân mật nghĩa thiết với Chúa Giêsu.

Xưởng thợ thánh Giuse còn chiếu tỏa một luồng ánh sáng mới trên công việc của chúng ta. Sự làm lụng công việc không phải chỉ là một phương tiện cải tạo bản thân và phụng sự cộng đoàn xã hội, mà còn giúp ta tham dự vào thân phận Con Thiên Chúa làm người, mời gọi chúng ta kết hiệp với những khổ đau của Ðức Kitô. Trong ý nghĩ ấy, sức lao động là một bước tiến tới cùng Thiên Chúa.

Ngày 02 Tháng Năm

Thánh Athanasiô, Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (296-373)

 

Năm 311, khi cơn bách hại vừa chấm dứt, thì một bè rối nổi lên, làm lung lay nền tảng Giáo Hội; Tại Alexandria, Arius loan truyền giáo thuyết chối bỏ thiên tính của Chúa Giêsu. Năm 325, công đồng Nicée được triệu tập để lên án Arius và xác quyết rằng "Ðức Kitô là Thiên Chúa, được sinh ra mà không phải tạo thành, đồng bản tính với Ðức Chúa Cha".

Cơn khủng hoảng kéo dài hơn 50 năm, và trong những giờ đen tối nhất, nhiều người dường như không còn nhìn thấy ánh sáng đức tin. Nhưng Thiên Chúa quan phòng đã ban cho Giáo Hội những vị bênh vực đầy khôn ngoan mà thánh Athanasiô là vị nổi tiếng hơn cả.

Thánh Athanasiô không sợ uy quyền của hoàng đế, những ý kiến trái ngược của các vị Giám Mục khác chạy theo bè rối và những cực hình phải chịu. Suốt 45 năm trong chức vụ chủ chăn (328-373), ngài đã bị lưu đày năm lần. Với một đức tin sắt đá, ngài luôn sẵn sàng bảo vệ giáo lý chân chính. Ngoài ra, ngài còn viết nhiều bài giảng huấn ca tụng đức đồng trinh và bậc sống ẩn tu, diễn tả tình yêu nồng nhiệt đối với Ðức Kitô, Con Thiên Chúa xuống thế làm người để ban cho chúng ta quyền làm Con Thiên Chúa.

 

Thánh Giuse Nguyễn Văn Lựu, trùm họ (+ 1854)

Thánh Giuse Lựu sinh năm 1790 tại Cái Nhum, Vĩnh Long. Ðược giáo dục từ nhỏ trong một gia đình đạo hạnh; lớn lên, ngài được bầu làm trùm họ. Ngài luôn tỏ ra đời sống Kitô hữu gương mẫu trong thời cấm cách. Ngày 25/2/1853, ngài cùng bị bắt với cha Philipphê Minh tại họ Mặc Bắc, và cùng giải về Vĩnh Long.

Trong tù, bị tra tấn, chịu đòn vọt, ngài vẫn cương quyết giữ vững đức tin. Vì tuổi già sức yếu lại phải đeo gông mang xiềng nặng và chịu nhiều cực hình, ngài đã chết rũ tù ngày 02/5/1854 để lãnh nhận triều thiên tử đạo.

Ðức Thánh Cha Piô X đã tôn phong ngài lên hàng Chân Phước ngày 02.5.1909.

Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19/6/1988.

Ngày 03 Tháng Năm

Thánh Philipphê và Giacôbê hậu, Tông Ðồ (thế kỷ I)

 

Thánh Philipphê là người cùng quê với thánh Phêrô và Anrê sinh tại Betsaiđê, một làng trên bờ biển Tibêriát. Trước kia ngài theo thánh Gioan Tiền Hô và đã trở thành một trong những môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu. Chính ngài đã bảo cho Nathan biết Ðấng Cứu Thế đã đến và dẫn ông ta đến gặp Chúa. Phúc Âm đã nói lên mối liên hệ mật thiết giữa ngài với Chúa Giêsu.
Trước khi làm phép lạ bách hóa nhiều, Chúa đã hỏi thử Philipphê tìm kiếm thức ăn cho mọi người. Cũng chính ngài đã được lương dân xúm lại hỏi han và yêu cầu cho xem Ðấng Cứu Thế. Rồi trong bữa tiệc ly, ngài đã xin Chúa Giêsu tỏ Ðức Chúa Cha cho mình và Chúa Giêsu đã trả lời: "Ai thấy Ta là thấy Chúa Cha".

Sau khi đã nhận lãnh Thánh Thần, ngài đã đem đức tin lại cho toàn thể dân thành Sitti. Sau đó, ngài đến giảng dạy ở Hiêrapoli, xứ Rigie và chịu đóng đinh vì danh Chúa. Xác ngài được các tín hữu ở đó mai táng, sau được đem về Rôma đặt bên mồ thánh Giacôbê.

Thánh Giacôbê hậu (gọi ngài như thế là để phân biệt với thánh Giacôbê con ôngAlphê) là anh em họ với Chúa Giêsu. Ngài là Giám Mục đầu tiên cai quản thành Giêrusalem. Sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã hiện ra với ngài và chính ngài đã viết một bức thư còn lưu lại trong bộ Tân Ước.

Vì trung thành với đức tin, ngài bị bọn biệt phái và một số người cứng lòng tố cáo và kết án. Ngài bị chúng xô từ trên nóc đền thờ xuống và ném đá cho đến chết. Trước khi chết, ngài còn quỳ gối cầu nguyện xin Chúa tha thứ cho kẻ thù của mình.

Ngày 09 Tháng Năm

Thánh Giusu Hiển, Linh Mục (1775-1840)

 

Thánh Giuse Hiển sinh năm 1775 tại làng Quần Anh, Nam Ðịnh. Lớn lên, ngài dâng mình cho Chúa, chịu chức linh mục và nhập dòng thánh Ða Minh. Khi vua Minh Mạng cấm đạo gắt gao thì ngài đang coi xứ Cao Mộc. Bị lùng bắt, ngài phải lẩn trốn về quê là Quần Anh, sau đó qua Hưng Nghĩa rồi đến Trung Thành. Cuối cùng, vì bị kẻ gian theo dõi và tố giác, nên ngày 20/12/1839, ngài bị bắt. Quan tra xét và bắt khóa tại chỗ, nhưng ngài bất khẳng nên bị đóng gông và áp giải về Nam Ðịnh.

Trong tù ngài luôn vui chịu mọi hình khổ, lo lắng chăm sóc các bạn cùng số phận và khích lệ tinh thần mọi người luôn hiên ngang vì đức tin Công Giáo.
Quan ra án tử hình và được vua Minh Mạng châu phê, nên ngày 09/5/1840, ngài bị xử chém tại pháp trường Nam Ðịnh.

Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII đã phong ngài lên hàng Chân Phước ngày 27/5/1900.

Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19/6/1988.

Ngày 10 tháng 5

Chân Phước DAMIEN

Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia

 

- Tên khai sinh: JOSEP DE VEUSTER.

- Sinh: ở Tremelo, Belgique, ngày 3/01/1840.

- 1859: gia nhập Dòng Sacrés-Coeurs (gọi là Picpus).

- 1863: được sai đi Hawai.

- 1864: thụ phong Linh Mục ở Honolulu.

- 10/05/1873: đến trại phong Molokai, và ở đó cho tới khoảng cuối năm 1884 thì ngài phát hiện mình bị lây bệnh khi chăm sóc các bệnh nhân cùi.

- Về với Chúa: 15/04/1889 ở Molokai (Hawai)

- Ðược Ðức Gio-an Phao-lô 2 phong Chân Phước ngày 4/06/1995 tại Bruxelles, Bỉ.

- Lễ kính: ngày 10 tháng 5 hàng năm.

Chan Phuoc Damien<="" td="" width="210" height="262">

JOSEPH DE VEUSTER sinh trong một gia đình người Bỉ nói tiếng Flamand, tại làng Tremelo, năm 1840. Song thân ngài vừa là nông dân, vừa làm nghề buôn bán. Ngài là con thứ bảy trong 8 người con, mà sau này có bốn người đi tu. Ngài theo chân một trong các anh của ngài vào Dòng Thánh Tâm Chúa Giê-su và Mẹ Ma-ri-a (Les Sacrés Coeurs de Jésus et de Marie) và lấy tên là DAMIEN.

Ngài có lòng yêu mến tôn thờ Thánh Thể và tôn sùng Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a. Với ngài, truyền giáo chính là làm cho mọi người biết và yêu mến Chúa Giê-su Tình Yêu. Từ nhiệt tâm truyền giáo, vị Tu Sĩ trẻ đã gửi thỉnh nguyện trực tiếp tới Bề Trên Tổng Quyền và nhận được phép đi đến một Ðiểm Truyền Giáo mới lập ở Hawai, thay cho anh ngài bị bệnh. Ngài không chờ thụ phong Linh Mục, mà lên đường ngay.

Ở Honolulu, chính quyền tập trung tất cả những bệnh nhân phong ở đảo Molokai và Cha Damien (thụ phong Linh Mục năm 1864) được chọn giữa những người tình nguyện khác để bảo đảm sự hiện diện của Linh Mục trong hoả ngục tuyệt vọng và khốn khổ ấy, như "một nhà tù lộ thiên" (Thời đó, người ta vẫn nghĩ bệnh cùi dễ lây và phải cách ly các bệnh nhân). Ngài không chịu nổi cảnh đau khổ của các bệnh nhân. Ngài tổ chức đời sống đạo đức, xã hội và huynh đệ trong hòn đảo bị xã hội khai trừ này. Ngài xây dựng một bệnh viện phong, một trường học và một Nhà Thờ. Dần dần, khắp nơi biết đến và gửi cho ngài nhiều hỗ trợ vật chất. Một mình ở giữa các bệnh nhân phong, ngài đau khổ vì không thể xưng tội. Ngài liên đới với các bệnh nhân phong (mà ngài thích xưng là: "Những Người Cùi Của Chúng Tôi") và mặc dầu đã cẩn thận phòng ngừa, đến lượt ngài cũng bị lây bệnh phong.

Chan Phuoc Damien<="" td="" width="224" height="254">

Ngài mất vào ngày thứ 2 Tuần Thánh, 15/04/1889, trong khi ngài những ước ao có thể chết vào ngày mừng Chúa Sống Lại. Ngài rất nổi tiếng ở Châu Âu và ở Mỹ. Ngay Mahatma Gandhi cũng rất ngạc nhiên và thán phục tinh thần yêu mến và xả thân của ngài cho người phong cùi. Ngài được Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô 2 tuyên phong Chân Phước ngày 4 tháng 6 năm 1995 tại Bruxelles, Bỉ và thi hài của ngài được mai táng ở Cung Thánh Thánh Ðường Les Sacrés Coeurs ở Louvain, Bỉ. Ngài xứng đáng được gọi là "Tông Ðồ Của Người Cùi".

 

Trích Trang Liên Lạc CVK số 33, Gs. Nguyễn Thế Bài

 

(Trích dẫn từ GospelNet số 115, ngày 18/05/2003)

 

Ngày 11 Tháng Năm

Thánh Matthêu Lê Văn Gẫm, lái buôn (+ 1847)

 

Thánh Matthêu Lê Văn Gẫm sinh năm 1813 tại làng Long Ðại, đất Gò Công, tỉnh Biên Hòa, nay thuộc quận Thủ Ðức, tỉnh Gia Ðịnh.

Khi lên 15 tuổi, ngià vào Chủng Viện Lái Thiêu, nhưng vì hoàn cảnh cha mẹ già yếu không có người săn sóc nên buộc lòng ngài phải rời bỏ Chủng Viện.

Ít năm sau, ngài lập gia đình và phải về ở bên nhà cha mẹ vợ tại làng Long Ðiền, tỉnh Bà Rịa. Ngài sinh được bốn người con mà hai trong số này cũng sẽ được lãnh phúc tử đạo. Ðã một lần ngài sa ngã, thất tín với vợ, nhưng rồi sớm tỉnh ngộ và ăn năn hối cải. Sau đó, ngài đã tự nguyện giúp việc nhà chung và săn sóc các linh mục như việc đền bù lỗi lầm.

Vì quen nghề sông biển, lại đầy nhiệt huyết phục vụ việc đạo, ngài được Bề Trên tín nhiệm trao tiền đóng thuyền để vượt biển sang Hạ Châu (Tân Gia Ba) và Pénang (Mã Lai) đón các nhà truyền giáo và đưa rước các chủng sinh đi du học. Ngày 23/5/1846, thuyền nhổ neo rời Tân Gia Ba chở Ðức Cha Lefèbvre và cha Duclos cùng ba chủng sinh về Sài Gòn. Ngày 06/6, thuyền tới cửa Cần Giờ và theo dự tính sẽ có thuyền tam bản ra đón các đấng. Vì thuyền về trễ, mất liên lạc, nên tối hôm sau, ngài đã đánh liều kéo buồm đưa thuyền vào bờ. Việc bị bại lộ, quân tuần tiễu ập tới khám xét và tất cả cùng bị bắt, riêng ngài bị đóng gông và bị tống ngục.

Mặc dầu phải chịu tra tấn tàn ác, ngài vẫn can đảm tuyên xưng đức tin Công Giáo, thà chết chứ không bao giờ chịu quá khóa.

Vua Triệu Trị phê án tử hình cho ngài, nên ngày 11/5/1847, ngài đã hiên ngang tới pháp trường gần chợ "Da Còm", thuộc khu vực Chợ Ðũi để chịu xử trảm, lãnh nhận triều thiên tử đạo.

Ðức Thánh Cha Lêô XIII đã tôn phong ngài lên hàng Chân Phước ngày 27/5/1900.

Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19/6/1988.

Ngày 12 Tháng Năm


Thánh Nêrê Và Achillêô Tử Ðạo (+ 304)

 

Khách hành hương đến Rôma thường viếng thăm hai vương cung thánh đường kính thánh Nêrê và Achillêô: một được xây trên phần mộ của các ngài tại đường Ardeatina (vào thế kỷ IV), một do Ðức Thánh Cha Lêô III (795-816) cung hiến tại đường Appia. Cũng như thánh Sêbastianô, thánh Nêrê và Achillêô đều phục vụ trong quân đội dưới triều hoàng đế Ðiôclêtianô. Lúc đầu khi cơn bách hại bùng nổ (304), các ngài còn là những người ngoại, nhưng trước tấm gương can đảm của những vị tử đạo, các ngài đã trở lại và tin theo Chúa Giêsu. Bức bích họa trong vương cung thánh đường tại Ardeatina đã diễn tả cuộc hành quyết của thánh Achillêô: hai tay bị trói, ngài hiên ngang lãnh nhận lưỡi gươm của lý hình.

Thánh Phancraxiô Tử Ðạo (+ 304)

Thánh Phancraxiô sinh tại Phygia, thuộc dòng dõi danh giá. Ngài đến Rôma và được chịu phép thánh thể tại đó năm 14 tuổi. Dưới triều Ðiôclêtianô và Maximien, cuộc bách hại ngày càng gắt gao ngay tại Giáo Ðô La Mã và nhiều nơi khác. Người ta bắt ngài dâng hương tế thần, chối bỏ Chúa Kitô, nhưng ngài cực lực phản đối và nhất quyết không chịu tuân theo, cho dù phải chết vì đạo Chúa.

Thánh nhân đã được diễm phúc lấy máu đào chứng minh đức tin. Sau nhiều trận đòn ghê rợn, ngài đã chịu chém đầu vào năm 304.

Ngày 14 Tháng Năm

Thánh Matthias, Tông Ðồ

 

Chúng ta chỉ biết đến thánh Matthias qua bài tường thuật về các tông đô chọn lựa ngài thế chỗ cho Giuđa sau ngày Chúa về Trời. Bài diễn văn của thánh Phêrô trước khi bắt thăm đã nêu lên những điểm vô cùng quan trọng. Theo ngài, các tông đồ phải là những người thuộc nhóm mười hai, do Chúa Giêsu thiết lập để tiếp tục rao giảng Phúc Âm. Một kẻ trong nhóm mười hai đã phản bội, vì thế phải tìm người khác thay thế, vì con số mười hai đã được mạc khải: dân tộc mới của Thiên Chúa được xây dựng trên nền tảng mười hai tông đồ, như xưa dân Israel, trên mười hai người con của Giacop. Ðiều kiện để được chọn làm tông đồ là đã theo Chúa, từ lúc Chúa chịu Phép Rửa đến khi về trời, hầu có thể trở nên chứng nhân về sự phục sinh khải hoàn. Phải sống với Chúa, nghe Chúa giảng dạy, trong tình thân mật, phải ăn uống với Chúa sau ngày sống lại, nhờ đó mới có thể mạnh dạn loan truyền và sẵn sàng lấy máu đào minh chứng cho chân lý. Thánh Matthias đã được chọn và ngài đã hăng say chu toàn sứ mạng Chúa giao phó.

Ngày 18 Tháng Năm

Thánh Gioan I, Giáo Hoàng Tử Ðạo (+ 526)

 

Thánh Gioan sinh tại Senas miền Toscane nước Ý. Người ta hầu như không biết gì về thời thơ ấu của ngài. Chỉ biết ngài lên ngôi Giáo Hoàng ngày 13/8/523. Là một con người rất nhiệt thành, suốt đời ngài chỉ sống câu: "Sống vì danh Chúa". Ngài rất có công trong việc hoàn tất điệu hát bình ca (Chant grégorien) mà các vị tiền nhiệm đã khởi xướng: Ðức Cêlestinô I, Lêô cả và Gêlase. Ngài còn tỏ ra là một vị chủ chăn đầy khôn ngoan và đạo đức. Năm 624, vua Auguste Justin I bên Tiểu Á, vì nhiệt thành với tôn giáo và cũng nhằm lợi ích chính trị, muốn thống nhất Giáo Hội nên đã đàn áp nhóm lạc giáo Ariô và chiếm hữu các cơ sở tôn giáo của họ. Việc đàn áp này đã gây nên một cuộc bất mãn và sinh ra sự chống đối tôn giáo và chính trị, và Ðức Gioan I chỉ là một con cờ hy sinh. Tại Rôma, vua Théođoric thuộc phái Ariô khi hay tin việc đàn áp này, liền nổi giận gửi tối hậu thư cho vua Justin, nhưng không kết quả.

Théođoric mới bắt Ðức Giáo Hoàng Gioan làm con tin và buộc dẫn đầu đoàn sứ giả sang vua Justin đòi trả lại tài sản và cho nhóm Ariô được tự do truyền đạo. Ðã nhiều lần ngài đứng lên phản đối trước mặt nhà vua. Sau cùng ngài chấp thuận đi. Lần đầu tiên trong lịch sử một Ðức Giáo Hoàng rời khỏi nước Ý. Vua Justin và toàn dân Constantinople hân hoan tưng bừng đón rước ngài. Ngài chủ lễ Phục Sinh tại Sainte Sophie một cách long trọng có mặt tất cả triều đình, dân Hy Lạp và La Tinh nữa. Nhà vua xin ngài phong vương, ngài đã đặt vương miện cho nhà vua. 

Khi về Rôma, vua Théođoric cho rằng ngài đã hành động ngược lại với mình, liền bắt ngài, định đem xử tử nhưng còn sợ dân chúng dấy loạn, liền giam ngài tại Ravenne và bỏ đói cho đến khi chết. Ngài lìa trần ngày 18/5/526. Xác ngài được đưa về Rôma ngày 27/5/530 và chôn cất trong vương cung thánh đường Vatican.

Ngày 20 Tháng Năm

Thánh Bernađinô thành Siêna, Linh Mục (1380-1444)

 

Ngày 07/9/1380 là ngày sinh nhật và cũng là ngày thánh Bernađinô Albizesca lãnh phép Rửa Tội. Ngài bị mồ côi mẹ từ hồi lên ba và mồ côi cha khi chưa đầy sáu tuổi, được một bà dì đạo đức nuôi nấng và dạy dỗ chu đáo. Với một lòng bác ái và thương xót đối với người nghèo, ngài tự nguyện hiến thân phục vụ các bệnh nhân tại nhà thương Ðức Bà Scala, ở Siêna. Ngày 08/9/1402, nhận ra tiếng Chúa, ngài liền bán hết của cải và xin nhập dòng Phanxicô. Sau đó, ngài lãnh chức linh mục và được các Bề Trên giao cho sứ mạng đi giảng thuyết. Mặc dù biết mình không có khả năng, nhưng ngài đặt hết tin tưởng vào sự trợ giúp của Thiên Chúa và đã lướt thắng được những khó khăn. Rảo qua khắp thành thị và làng xóm, lời giảng dạy và ơn cứu độ danh Chúa Giêsu đã lôi cuốn được nhiều người nghe theo. Ngài đã khôi phục lại được đời sống đạo đức và thuần phong mỹ tục đang trên đà xuống dốc. Ngài luôn hăng say và nhiệt thành với nghĩa vụ cho tới khi lâm bệnh nặng. Trước khi nhắm mắt, ngài xin chịu các phép Bí Tích và đã trút linh hồn trong tay Chúa tại thành Aquila, thọ 66 tuổi, vào ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống năm 1444.

Ngày 22 Tháng Năm

Thánh Micae Hồ Ðình Hy, Quan Thái Bộc (+ 1857)

 

Thánh Micae Hồ Ðình Hy sinh năm 1808 trong một gia đình quan lại và đạo đức tại làng Nhu Lâm, tỉnh Thừa Thiên. Ngay từ nhỏ, ngài đã tỏ ra có nhiều điểm đặc biệt về trí thông minh và lòng đạo đức. Khi chưa đầy 19 tuổi, ngài đã được cất nhắc lên làm thư lại cửu phẩm bộ công, và năm sau ngài lập gia đình.
Chân Phước Micae Hy đã sống chết với nhiệm vụ được trao phó, thương yêu bề tôi, chăm sóc kẻ bệnh hoạn, luôn luôn phục vụ công ích và không màng chi đến danh lợi, đến của cải phi nghĩa. Chính nhờ những đức tính quý báu ấy, ngài đã được thăng quan dần cho tới hàm tam phẩm làm thái bộc trông coi mọi việc trong đền vua. Về đời sống đạo đức, ngoại trừ một thời gian ngắn ngài sống bê tha biếng trễ, nhưng rồi đã ăn ăn hối lỗi và trở nên tấm gương sáng soi chung cho mọi người. Ngài đã được bầu làm trùm họ và phụ tá cho Ðức Giám Mục địa phận.

Ðến cuối năm 1856, một số các vị quan vốn ghét ngài vì thường bị ngài ngăn chặn trong những việc bất chính nên đã manh tâm dâng sớ tâu vua để tố cáo ngài về nhiều chuyện do họ bịa đặt: nào là liên lạc với Tây để âm mưu làm loạn, nào theo đạo Gia Tô trái lệnh triều đình.v.v... Vua Tự Ðức, vì đang sẵn ghét đạo, nên dù quý mến quan thái bộc, cũng đã truyền lệnh bắt ngài. Bị cách chức, bị tra khảo nhiều lần và bị hành hạ nhiều cách đến nỗi ngài gần phải buông xuôi, nhưng nhờ sự nâng đỡ của Ðức Giám Mục và nhờ có đức tin vững chắc nên cuối cùng ngài đã được lãnh nhận triều thiên tử đạo ngày 22/5/1857 do án trảm quyết tại pháp trường An Hòa (Huế).

Ngày 02/5/1909, Ðức Thánh Cha Piô X đã phong ngài lên hàng Chân Phước tử đạo.

Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19/6/1988.

Thánh Laurensô Ngôn, giáo dân (+ 1862)

Thánh Laurensô Ngôn là một thanh niên Công Giáo rất đạo đức và nhiệt thành. Trước kia ngài đã bị tống giam vì từ chối bước qua Thánh Giá, nay vì cơn bách hại càng ngày càng gay gắt, nên ngài đã bị bắt lại lần thứ hai. Dù bị cầm tù, ngài vẫn can đảm khuyên các bạn giữ vững đức tin. Trước những lời dụ dỗ ngon ngọt của quan tòa, ngài vẫn cương quyết trả lời: "Tôi tin kính Thiên Chúa, Ðấng tạo dựng trời đất, và sẽ không khi nào đạp lên Thánh Giá. Nếu quan để tôi sống thì hay lắm, bằng không, tôi vẫn hân hoan đón nhận cái chết".

Vì những lời anh hùng đó, ngài đã bị trảm quyết ngày 22/5/1862 tại Nam Ðịnh, sau tám tháng rưỡi tù tội đày ải.

Ðức Thánh Cha Piô XII đã tôn phong ngài lên hàng Chân Phước ngày 29/4/1951.

Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19/6/1988.

Ngày 25 Tháng Năm

Thánh Bêđa Vênêrabilê, 

Linh Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (673-735)

 

Thánh Bêđa sinh năm 673 tại Jarron vùng biên giới Anh Quốc và Ecosse. Ngài mồ côi cha khi lên bảy, nhưng bù lại người thụ hưởng nơi người mẹ một trí khôn sắc sảo và nhiều đức tính cao đẹp. Năm 682, ngài vào dòng Biển Ðức, sống một cuộc đời khiêm nhường, vâng lời và đơn sơ. Năm 29 tuổi, ngài lãnh chức linh mục và được cử làm giáo sư. Nhiệt thành với sứ mạng, ngài đã áp dụng những phương pháp mới, thích hợp với tâm lý. Ngoài việc dạy học, ngài còn viết nhiều sách có giá trị thuộc đủ mọi bộ môn như triết lý, toán học, và thường đảm nhiệm công tác đối chất với các lạc giáo. Nhưng điểm nổi bật hơn cả nơi ngài chính là đời sống nội tâm dồi dào, kết hiệp mật thiết với Chúa, hăng say cầu nguyện và trung thành với việc bổn mạng. Khi nằm trên giường bệnh với hai mắt mù lòa, ngài còn cố gắng đọc cho học trò chép bản dịch Phúc Âm Thánh Gioan. Ðến năm 735, ngài qua đời trong khi miệng vẫn còn đọc kinh "Sáng Danh" ca tụng Chúa. 

Ngày 13/11/1899, ngài được Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII truy phong lên bậc Tiến Sĩ Giáo Hội.

Thánh Grêgôriô VII, Giáo Hoàng (1015- 1085)

 

Thánh Grêgôriô VII tên thật là Hildebrand, sinh năm 1015 tại Sovana miền Toscane trong một gia đình trung lưu nước Ý. Ngài đã có công phục hưng tinh thần dạo đức của hàng giáo sĩ và tranh đấu cho tự do của Giáo Hội. Từ thời niên thiếu, ngài đã được sống trong bầu khí tu viện; và nhờ trí thông minh và lòng đạo đức, ngài đã thu lượm nhiều kết quả tốt đẹp. Khi Ðức Lêô IX lên ngôi, ngài được cử giữ những chức vụ quan trọng, và nhân dịp này, ngài đã đem hết tài lực ra ngăn chặn làn sóng sa đọa đang bành trướng trong Giáo Hội, bênh vực đức tin chống lại những giáo thuyết sai lầm của các bè rối. Ðược chọn làm Hồng Y, ngài giữ nhiều chức vụ và sứ mạng quan trọng dưới thời Lêô IX, Victo II, Stêphanô IX, Nicolao II và Alexandre II. Sau khi đức Alexandre mất (1073), ngài được bầu lên kế vị. Dù ở địa vị Giáo Hoàng, ngài vẫn tiếp tục sống một cuộc đời khắc khổ như cũ.

Dưới triều đại của ngài, Giáo Hội phải trải qua những giây phút đen tối nhất: tinh thần đạo đức bị sa sút, các đế quốc xâm lăng thánh địa và quyền hành của Hội Thánh bị chi phối. Bằng nguyện cầu, hy sinh và lòng nhiệt thành hăng hái, ngài cương quyết bảo vệ tự do, uy quyền và tài sản Giáo Hội. Chính vì thế, ngài đã gặp phải nhiều đau khổ. Bị ép buộc rời khỏi Rôma, và sau đó, ngày 25/5/1805, ngài qua đời tại Salec. Lời vàng ngọc của ngài trối lại khi sắp chết: "Tôi yêu sự công chính và ghét điều bất công. Ðó là lý do tôi phải chết trong cảnh lưu đày này". 

Tuy không đổ máu, nhưng đời sống tranh đấu của ngài xứng đáng được Ðức Grêgôriô VIII liệt vào hàng các vị tử đạo và được Ðức Phaolô V phong lên bậc Hiển Thánh.

Thánh Maria Mađalêna Ðệ Pazzi Ðồng Trinh (1566-1607)

 

Thánh nữ sinh ngày 02/4/1566 tại Florence nước Ý, thuộc gia đình Pazzi giàu sang và thế giá. Nhờ sự hướng dẫn của bà mẹ, Maria Mađalêna càng lớn càng thêm đức hạnh, nhất là lòng thương người và sự yêu thích cầu nguyện. Năm 16 tuổi, ngài từ hôn với một vị lãnh chúa và ngày 14/8/1582, ngài từ giã cha mẹ để hiến thân trong dòng kín, sống cuộc đời hoàn toàn khiêm nhượng, không làm mất lòng ai và luôn chu toàn những công tác theo luật dòng. Thêm vào đó, ngài thường giúp đỡ các chị em khác chu toàn công tác và săn sóc các chị em đau yếu. Về cuối đời, thánh nữ đã phải chịu cơn bệnh ung thư kéo dài lâu năm. Ngài luôn luôn lặp đi lặp lại câu: "Thà đau khổ hơn là chết". Sau cùng, vì cơn bệnh quá đau và kéo dài lâu ngày, ngài kiệt sức và trút hơi thở cuối cùng ngày 25/5/1607, hưởng thọ 41 tuổi. 

Ðức Giáo Hoàng Lêô IX đã tuyên phong ngài lên bậc Hiển Thánh ngày 28/4/1669.

Thánh Phêrô Ðoàn Văn Vân, Thầy Giảng (+ 1857)

 

Thánh Phêrô Ðoàn Văn Vân sinh năm 1780 tại làng Kẻ Bói tỉnh Hà Nam. Khi còn bé đã dâng mình cho Chúa vào sống trong Chủng Viện. Ðến năm 25 tuổi, thầy tình nguyện sống ở bậc kẻ giảng chuyên lo công việc truyền giáo bên cạnh các linh mục. Vì thầy rất chăm chỉ làm việc, sống đạo hạnh, nghèo khó nên Bề Trên giao cho thầy chức vụ quản lý, trông coi mọi việc trong xứ Bầu Nọ, tỉnh Sơn Tây.

Dưới thời vua Tự Ðức cấm đạo, ngài bị bắt và bị tố cáo là đạo trưởng, nhưng ngài đã khiêm nhường khai mình chỉ là thầy giảng chuyên lo giúp đỡ các linh mục. Cho dù bị các quan dụ dỗ và hành hạ, ngài quyết một mực giữ vững đức tin nơi Thiên Chúa và ước mong được phúc tử đạo. Do đó, ngài bị án trảm quyết và lý hình đã chém đầu ngài tại Sơn Tây ngày 25/5/1857, hưởng thọ 77 tuổi. Xác ngài được an táng tại họ Bách Lộc.

Ngày 02/5/1909, Ðức Thánh Cha Piô X đã tôn phong ngài lên bậc Chân Phước.

Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19/6/1988.

Thánh Gioan Ðoàn Trinh Hoan, Linh Mục 

Và Matthêu Nguyễn Văn Phượng, Trùm Họ (+ 1861)

 

Thánh Gioan Ðoàn Trinh Hoan sinh năm 1798 trong một gia đình đạo hạnh tại làng Kim Long, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Người được cậu ruột là cha Kiệt nuôi cho ăn học và giới thiệu gia nhập Chủng Viện Pénang (Mã Lai). Khi mãn trường, ngài trở về Ðàng Trong giúp Ðức Cha Taberd rồi Ðức Cha Cuénot, và thụ phong linh mục khoảng năm 1836. Sau đó được cử đi coi sóc các xứ Kẻ San thuộc tỉnh Quảng Bình, Bãi Trời thuộc Quảng trị, trở về Thừa Thiên một thời gian rồi lại đến ở Mỹ Hương (Quảng Bình).

Ngày 03/01/1561, vì có kẻ tố giác nên ngài bị bắt tại họ Sáo Bùn và bị áp giải về Ðồng Hới. Mặc dù chịu tra khảo, bị đánh đập nhiều lần, ngài vẫn hiên ngang tuyên xưng đức tin.

- Thánh Matthêu Nguyễn Văn Phượng sinh tại làng Kẻ Lái, Lý Nhơn thuộc tỉnh Quảng Bình. Khi trưởng thành, nhờ trí khôn ngoan và lòng đạo đức hiếm có, ngài được mọi người tín nhiệm bầu làm trùm họ Sáo Bùn.

Ngày 03/01/1861, ngài bị bắt vì tội chứa chấp cha Gioan Hoan và oa trữ đồ lễ cùng sách vở Công Giáo. Ngài bị giải về Ðồng Hới và bị giam cách biệt với cha Hoan. Trong tù ngài vẫn luôn giữ vững lòng tin vào Thiên Chúa và sẵn sàng đổ máu để nên chứng nhận nước trời.

Ngày 25/5/1861, án lệnh xử tử cha Gioan Hoan và ông trùm Matthêu Phượng được vua Tự Ðức châu phê về tới Ðồng Hới. Hôm sau, hai ngài gặp nhau trên đường đi tới pháp trường và cùng chịu trảm quyết một nơi.

Ðức Thánh Cha Piô X đã tôn phong hai ngài lên bậc Chân Phước ngày 02/5/1909.

Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô đã tôn phong Hiển Thánh ng   ày 19/6/1988.

Ngày 27 Tháng Năm

Thánh Augustinô Cantorbéry, Giám Mục (+604)

 

Augustinô Cantorbéry là Bề Trên tu viện thánh Anrê ở Rôma. Ngài được Ðức Grêgôriô cả gửi sang truyền giáo bên nước Anh với gần 40 vị thừa sai vào năm 597, vì nước Anh đã được giảng đạo ngay từ thế kỷ đầu, nhưng vì ảnh hưởng của ngẫu tượng giáo và sự xâm lăng của các sắc dân Saxon, Ðức Tin Công Giáo đã bị lu mờ hòa toàn và hầu như sắp tàn lụi. Với lòng nhiệt thành hăng say, thánh nhân rảo qua nhiều thành, khôi phục cùng đem lại đức tin cho nhiều người, trong đó có quốc vương Ethelbert và nhiều nhân vật trong chính quyền. Các nhà thờ cũng bắt đầu mọc lên. Ngày 16/11/597, ngài được phong làm Giám Mục và lập tòa ở Cantorbéry, rồi sau đó được ủy thác thành lập hàng giáo phẩm nước Anh.

Công cuộc của ngài không phải ít sóng gió và gian khổ, nhất là sự chia rẽ giữa nhóm truyền giáo cũ và mới. Nhưng với lòng kiên nhẫn, can đảm và tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa, ngài ăn chay, cầu nguyện và dùng việc làm để giải quyết vấn đề hơn là lời nói.

Sau chuỗi ngày làm việc tận tụy, ngài đã từ trần vào ngày 26/5/604. Và ngày 28/7/1882, Ðức Lêô XIII đã tôn phong ngài lên bậc Hiển Thánh.

Thánh Phaolô Hạnh, Giáo Dân (+ 1859)

 

Thánh phaolô Hạnh sinh năm 1827 tại Sài Gòn. Ngài là một giáo dân đạo đức, bị bắt và bị xử trảm ngày 28/5/1859 dưới triều Tự Ðức.

Ngày 02/5/1909, Ðức Thánh Cha Piô X đã tôn phong ngài lên bậc Chân Phước.

Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19/6/1988.

Ngày 31 Tháng Năm

Ðức Mẹ Ði Thăm Bà Isave

 

Ngay sau biến cố truyền tin, Ðức Maria đã vội vã lên đường đi thăm chị họ mình là Elisabeth sắp tới ngày sinh. Thoạt khi nghe lời Maria chào, người con trong lòng bà đã nhảy mừng. Ðược Chúa Thánh Thần linh ứng, bà đã thốt lên: "Bởi đâu tôi được diễm phúc Mẹ Thiên Chúa đến thăm tôi... và phúc cho em vì em đã tin và lời Chúa phán truyền cho em sẽ được ứng nghiệm".

Trong lần gặp gỡ này, Ðức Trinh Nữ tràn ngập nỗi hân hoan, đã đáp lời bằng ca khúc Magnificat, bài ca biểu lộ lòng biết ơn và tình yêu đối với Thiên Chúa, bài ca Người đã thầm hát trong lòng ngay từ giây phút thiên sứ báo tin.

Giáo Hội đã đặt ngày lễ hôm nay để kính nhớ cuộc hội ngộ đầu tiên của Ðấng Cứu Thế và vị Tiền Hô của ngài. Lễ này đã được thánh Bonaventura cổ vũ bên Tây phương, và đến năm 1389 được phổ biến trong toàn thể Giáo Hội.

Chúng ta hãy xin Ðức Mẹ ban cho chúng ta được tâm tình bác ái như ngài đã có trong cuộc viếng thăm và giúp đỡ bà Elisabeth.

 

 

 

 

 

DẪN ĐẦU LỄ

 

 

PHỤNG VỤ CHƯ THÁNH THÁNG NĂM Ngày 01 Tháng Năm

Thánh Giuse Thợ

 

Trước khi trở thành lễ lao động tại Âu Châu, ngày 01 tháng 5, từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, đã được ghi dấu bằng những phong trào tranh đấu để nâng cao đời sống thợ thuyền. Giáo Hội đã lắng nghe tiếng kêu cứu ấy. Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII và Piô XI đã mở ra những chân trời mới trong thế giới cần lao. Sau cùng đức Piô XII đã muốn nhuộm thắm ngày hôm nay với màu sắc Kitô Giáo, dưới sự che chở của thánh Giuse thợ. Ngài không phải chỉ là một người thợ mộc Nagiareth, mà còn là một mẫu gương sáng chói cho chúng ta noi theo; suốt ba năm trường, ngài đã làm việc cho Chúa Giêsu và trong sự thân mật nghĩa thiết với Chúa Giêsu.

Xưởng thợ thánh Giuse còn chiếu tỏa một luồng ánh sáng mới trên công việc của chúng ta. Sự làm lụng công việc không phải chỉ là một phương tiện cải tạo bản thân và phụng sự cộng đoàn xã hội, mà còn giúp ta tham dự vào thân phận Con Thiên Chúa làm người, mời gọi chúng ta kết hiệp với những khổ đau của Ðức Kitô. Trong ý nghĩ ấy, sức lao động là một bước tiến tới cùng Thiên Chúa.

Ngày 02 Tháng Năm

Thánh Athanasiô, Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (296-373)

 

Năm 311, khi cơn bách hại vừa chấm dứt, thì một bè rối nổi lên, làm lung lay nền tảng Giáo Hội; Tại Alexandria, Arius loan truyền giáo thuyết chối bỏ thiên tính của Chúa Giêsu. Năm 325, công đồng Nicée được triệu tập để lên án Arius và xác quyết rằng "Ðức Kitô là Thiên Chúa, được sinh ra mà không phải tạo thành, đồng bản tính với Ðức Chúa Cha".

Cơn khủng hoảng kéo dài hơn 50 năm, và trong những giờ đen tối nhất, nhiều người dường như không còn nhìn thấy ánh sáng đức tin. Nhưng Thiên Chúa quan phòng đã ban cho Giáo Hội những vị bênh vực đầy khôn ngoan mà thánh Athanasiô là vị nổi tiếng hơn cả.

Thánh Athanasiô không sợ uy quyền của hoàng đế, những ý kiến trái ngược của các vị Giám Mục khác chạy theo bè rối và những cực hình phải chịu. Suốt 45 năm trong chức vụ chủ chăn (328-373), ngài đã bị lưu đày năm lần. Với một đức tin sắt đá, ngài luôn sẵn sàng bảo vệ giáo lý chân chính. Ngoài ra, ngài còn viết nhiều bài giảng huấn ca tụng đức đồng trinh và bậc sống ẩn tu, diễn tả tình yêu nồng nhiệt đối với Ðức Kitô, Con Thiên Chúa xuống thế làm người để ban cho chúng ta quyền làm Con Thiên Chúa.

 

Thánh Giuse Nguyễn Văn Lựu, trùm họ (+ 1854)

Thánh Giuse Lựu sinh năm 1790 tại Cái Nhum, Vĩnh Long. Ðược giáo dục từ nhỏ trong một gia đình đạo hạnh; lớn lên, ngài được bầu làm trùm họ. Ngài luôn tỏ ra đời sống Kitô hữu gương mẫu trong thời cấm cách. Ngày 25/2/1853, ngài cùng bị bắt với cha Philipphê Minh tại họ Mặc Bắc, và cùng giải về Vĩnh Long.

Trong tù, bị tra tấn, chịu đòn vọt, ngài vẫn cương quyết giữ vững đức tin. Vì tuổi già sức yếu lại phải đeo gông mang xiềng nặng và chịu nhiều cực hình, ngài đã chết rũ tù ngày 02/5/1854 để lãnh nhận triều thiên tử đạo.

Ðức Thánh Cha Piô X đã tôn phong ngài lên hàng Chân Phước ngày 02.5.1909.

Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19/6/1988.

Ngày 03 Tháng Năm

Thánh Philipphê và Giacôbê hậu, Tông Ðồ (thế kỷ I)

 

Thánh Philipphê là người cùng quê với thánh Phêrô và Anrê sinh tại Betsaiđê, một làng trên bờ biển Tibêriát. Trước kia ngài theo thánh Gioan Tiền Hô và đã trở thành một trong những môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu. Chính ngài đã bảo cho Nathan biết Ðấng Cứu Thế đã đến và dẫn ông ta đến gặp Chúa. Phúc Âm đã nói lên mối liên hệ mật thiết giữa ngài với Chúa Giêsu.
Trước khi làm phép lạ bách hóa nhiều, Chúa đã hỏi thử Philipphê tìm kiếm thức ăn cho mọi người. Cũng chính ngài đã được lương dân xúm lại hỏi han và yêu cầu cho xem Ðấng Cứu Thế. Rồi trong bữa tiệc ly, ngài đã xin Chúa Giêsu tỏ Ðức Chúa Cha cho mình và Chúa Giêsu đã trả lời: "Ai thấy Ta là thấy Chúa Cha".

Sau khi đã nhận lãnh Thánh Thần, ngài đã đem đức tin lại cho toàn thể dân thành Sitti. Sau đó, ngài đến giảng dạy ở Hiêrapoli, xứ Rigie và chịu đóng đinh vì danh Chúa. Xác ngài được các tín hữu ở đó mai táng, sau được đem về Rôma đặt bên mồ thánh Giacôbê.

Thánh Giacôbê hậu (gọi ngài như thế là để phân biệt với thánh Giacôbê con ôngAlphê) là anh em họ với Chúa Giêsu. Ngài là Giám Mục đầu tiên cai quản thành Giêrusalem. Sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã hiện ra với ngài và chính ngài đã viết một bức thư còn lưu lại trong bộ Tân Ước.

Vì trung thành với đức tin, ngài bị bọn biệt phái và một số người cứng lòng tố cáo và kết án. Ngài bị chúng xô từ trên nóc đền thờ xuống và ném đá cho đến chết. Trước khi chết, ngài còn quỳ gối cầu nguyện xin Chúa tha thứ cho kẻ thù của mình.

Ngày 09 Tháng Năm

Thánh Giusu Hiển, Linh Mục (1775-1840)

 

Thánh Giuse Hiển sinh năm 1775 tại làng Quần Anh, Nam Ðịnh. Lớn lên, ngài dâng mình cho Chúa, chịu chức linh mục và nhập dòng thánh Ða Minh. Khi vua Minh Mạng cấm đạo gắt gao thì ngài đang coi xứ Cao Mộc. Bị lùng bắt, ngài phải lẩn trốn về quê là Quần Anh, sau đó qua Hưng Nghĩa rồi đến Trung Thành. Cuối cùng, vì bị kẻ gian theo dõi và tố giác, nên ngày 20/12/1839, ngài bị bắt. Quan tra xét và bắt khóa tại chỗ, nhưng ngài bất khẳng nên bị đóng gông và áp giải về Nam Ðịnh.

Trong tù ngài luôn vui chịu mọi hình khổ, lo lắng chăm sóc các bạn cùng số phận và khích lệ tinh thần mọi người luôn hiên ngang vì đức tin Công Giáo.
Quan ra án tử hình và được vua Minh Mạng châu phê, nên ngày 09/5/1840, ngài bị xử chém tại pháp trường Nam Ðịnh.

Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII đã phong ngài lên hàng Chân Phước ngày 27/5/1900.

Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19/6/1988.

Ngày 10 tháng 5

Chân Phước DAMIEN

Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia

 

- Tên khai sinh: JOSEP DE VEUSTER.

- Sinh: ở Tremelo, Belgique, ngày 3/01/1840.

- 1859: gia nhập Dòng Sacrés-Coeurs (gọi là Picpus).

- 1863: được sai đi Hawai.

- 1864: thụ phong Linh Mục ở Honolulu.

- 10/05/1873: đến trại phong Molokai, và ở đó cho tới khoảng cuối năm 1884 thì ngài phát hiện mình bị lây bệnh khi chăm sóc các bệnh nhân cùi.

- Về với Chúa: 15/04/1889 ở Molokai (Hawai)

- Ðược Ðức Gio-an Phao-lô 2 phong Chân Phước ngày 4/06/1995 tại Bruxelles, Bỉ.

- Lễ kính: ngày 10 tháng 5 hàng năm.

Chan Phuoc Damien<="" td="" width="210" height="262">

JOSEPH DE VEUSTER sinh trong một gia đình người Bỉ nói tiếng Flamand, tại làng Tremelo, năm 1840. Song thân ngài vừa là nông dân, vừa làm nghề buôn bán. Ngài là con thứ bảy trong 8 người con, mà sau này có bốn người đi tu. Ngài theo chân một trong các anh của ngài vào Dòng Thánh Tâm Chúa Giê-su và Mẹ Ma-ri-a (Les Sacrés Coeurs de Jésus et de Marie) và lấy tên là DAMIEN.

Ngài có lòng yêu mến tôn thờ Thánh Thể và tôn sùng Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a. Với ngài, truyền giáo chính là làm cho mọi người biết và yêu mến Chúa Giê-su Tình Yêu. Từ nhiệt tâm truyền giáo, vị Tu Sĩ trẻ đã gửi thỉnh nguyện trực tiếp tới Bề Trên Tổng Quyền và nhận được phép đi đến một Ðiểm Truyền Giáo mới lập ở Hawai, thay cho anh ngài bị bệnh. Ngài không chờ thụ phong Linh Mục, mà lên đường ngay.

Ở Honolulu, chính quyền tập trung tất cả những bệnh nhân phong ở đảo Molokai và Cha Damien (thụ phong Linh Mục năm 1864) được chọn giữa những người tình nguyện khác để bảo đảm sự hiện diện của Linh Mục trong hoả ngục tuyệt vọng và khốn khổ ấy, như "một nhà tù lộ thiên" (Thời đó, người ta vẫn nghĩ bệnh cùi dễ lây và phải cách ly các bệnh nhân). Ngài không chịu nổi cảnh đau khổ của các bệnh nhân. Ngài tổ chức đời sống đạo đức, xã hội và huynh đệ trong hòn đảo bị xã hội khai trừ này. Ngài xây dựng một bệnh viện phong, một trường học và một Nhà Thờ. Dần dần, khắp nơi biết đến và gửi cho ngài nhiều hỗ trợ vật chất. Một mình ở giữa các bệnh nhân phong, ngài đau khổ vì không thể xưng tội. Ngài liên đới với các bệnh nhân phong (mà ngài thích xưng là: "Những Người Cùi Của Chúng Tôi") và mặc dầu đã cẩn thận phòng ngừa, đến lượt ngài cũng bị lây bệnh phong.

Chan Phuoc Damien<="" td="" width="224" height="254">

Ngài mất vào ngày thứ 2 Tuần Thánh, 15/04/1889, trong khi ngài những ước ao có thể chết vào ngày mừng Chúa Sống Lại. Ngài rất nổi tiếng ở Châu Âu và ở Mỹ. Ngay Mahatma Gandhi cũng rất ngạc nhiên và thán phục tinh thần yêu mến và xả thân của ngài cho người phong cùi. Ngài được Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô 2 tuyên phong Chân Phước ngày 4 tháng 6 năm 1995 tại Bruxelles, Bỉ và thi hài của ngài được mai táng ở Cung Thánh Thánh Ðường Les Sacrés Coeurs ở Louvain, Bỉ. Ngài xứng đáng được gọi là "Tông Ðồ Của Người Cùi".

 

Trích Trang Liên Lạc CVK số 33, Gs. Nguyễn Thế Bài

 

(Trích dẫn từ GospelNet số 115, ngày 18/05/2003)

 

Ngày 11 Tháng Năm

Thánh Matthêu Lê Văn Gẫm, lái buôn (+ 1847)

 

Thánh Matthêu Lê Văn Gẫm sinh năm 1813 tại làng Long Ðại, đất Gò Công, tỉnh Biên Hòa, nay thuộc quận Thủ Ðức, tỉnh Gia Ðịnh.

Khi lên 15 tuổi, ngià vào Chủng Viện Lái Thiêu, nhưng vì hoàn cảnh cha mẹ già yếu không có người săn sóc nên buộc lòng ngài phải rời bỏ Chủng Viện.

Ít năm sau, ngài lập gia đình và phải về ở bên nhà cha mẹ vợ tại làng Long Ðiền, tỉnh Bà Rịa. Ngài sinh được bốn người con mà hai trong số này cũng sẽ được lãnh phúc tử đạo. Ðã một lần ngài sa ngã, thất tín với vợ, nhưng rồi sớm tỉnh ngộ và ăn năn hối cải. Sau đó, ngài đã tự nguyện giúp việc nhà chung và săn sóc các linh mục như việc đền bù lỗi lầm.

Vì quen nghề sông biển, lại đầy nhiệt huyết phục vụ việc đạo, ngài được Bề Trên tín nhiệm trao tiền đóng thuyền để vượt biển sang Hạ Châu (Tân Gia Ba) và Pénang (Mã Lai) đón các nhà truyền giáo và đưa rước các chủng sinh đi du học. Ngày 23/5/1846, thuyền nhổ neo rời Tân Gia Ba chở Ðức Cha Lefèbvre và cha Duclos cùng ba chủng sinh về Sài Gòn. Ngày 06/6, thuyền tới cửa Cần Giờ và theo dự tính sẽ có thuyền tam bản ra đón các đấng. Vì thuyền về trễ, mất liên lạc, nên tối hôm sau, ngài đã đánh liều kéo buồm đưa thuyền vào bờ. Việc bị bại lộ, quân tuần tiễu ập tới khám xét và tất cả cùng bị bắt, riêng ngài bị đóng gông và bị tống ngục.

Mặc dầu phải chịu tra tấn tàn ác, ngài vẫn can đảm tuyên xưng đức tin Công Giáo, thà chết chứ không bao giờ chịu quá khóa.

Vua Triệu Trị phê án tử hình cho ngài, nên ngày 11/5/1847, ngài đã hiên ngang tới pháp trường gần chợ "Da Còm", thuộc khu vực Chợ Ðũi để chịu xử trảm, lãnh nhận triều thiên tử đạo.

Ðức Thánh Cha Lêô XIII đã tôn phong ngài lên hàng Chân Phước ngày 27/5/1900.

Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19/6/1988.

Ngày 12 Tháng Năm


Thánh Nêrê Và Achillêô Tử Ðạo (+ 304)

 

Khách hành hương đến Rôma thường viếng thăm hai vương cung thánh đường kính thánh Nêrê và Achillêô: một được xây trên phần mộ của các ngài tại đường Ardeatina (vào thế kỷ IV), một do Ðức Thánh Cha Lêô III (795-816) cung hiến tại đường Appia. Cũng như thánh Sêbastianô, thánh Nêrê và Achillêô đều phục vụ trong quân đội dưới triều hoàng đế Ðiôclêtianô. Lúc đầu khi cơn bách hại bùng nổ (304), các ngài còn là những người ngoại, nhưng trước tấm gương can đảm của những vị tử đạo, các ngài đã trở lại và tin theo Chúa Giêsu. Bức bích họa trong vương cung thánh đường tại Ardeatina đã diễn tả cuộc hành quyết của thánh Achillêô: hai tay bị trói, ngài hiên ngang lãnh nhận lưỡi gươm của lý hình.

Thánh Phancraxiô Tử Ðạo (+ 304)

Thánh Phancraxiô sinh tại Phygia, thuộc dòng dõi danh giá. Ngài đến Rôma và được chịu phép thánh thể tại đó năm 14 tuổi. Dưới triều Ðiôclêtianô và Maximien, cuộc bách hại ngày càng gắt gao ngay tại Giáo Ðô La Mã và nhiều nơi khác. Người ta bắt ngài dâng hương tế thần, chối bỏ Chúa Kitô, nhưng ngài cực lực phản đối và nhất quyết không chịu tuân theo, cho dù phải chết vì đạo Chúa.

Thánh nhân đã được diễm phúc lấy máu đào chứng minh đức tin. Sau nhiều trận đòn ghê rợn, ngài đã chịu chém đầu vào năm 304.

Ngày 14 Tháng Năm

Thánh Matthias, Tông Ðồ

 

Chúng ta chỉ biết đến thánh Matthias qua bài tường thuật về các tông đô chọn lựa ngài thế chỗ cho Giuđa sau ngày Chúa về Trời. Bài diễn văn của thánh Phêrô trước khi bắt thăm đã nêu lên những điểm vô cùng quan trọng. Theo ngài, các tông đồ phải là những người thuộc nhóm mười hai, do Chúa Giêsu thiết lập để tiếp tục rao giảng Phúc Âm. Một kẻ trong nhóm mười hai đã phản bội, vì thế phải tìm người khác thay thế, vì con số mười hai đã được mạc khải: dân tộc mới của Thiên Chúa được xây dựng trên nền tảng mười hai tông đồ, như xưa dân Israel, trên mười hai người con của Giacop. Ðiều kiện để được chọn làm tông đồ là đã theo Chúa, từ lúc Chúa chịu Phép Rửa đến khi về trời, hầu có thể trở nên chứng nhân về sự phục sinh khải hoàn. Phải sống với Chúa, nghe Chúa giảng dạy, trong tình thân mật, phải ăn uống với Chúa sau ngày sống lại, nhờ đó mới có thể mạnh dạn loan truyền và sẵn sàng lấy máu đào minh chứng cho chân lý. Thánh Matthias đã được chọn và ngài đã hăng say chu toàn sứ mạng Chúa giao phó.

Ngày 18 Tháng Năm

Thánh Gioan I, Giáo Hoàng Tử Ðạo (+ 526)

 

Thánh Gioan sinh tại Senas miền Toscane nước Ý. Người ta hầu như không biết gì về thời thơ ấu của ngài. Chỉ biết ngài lên ngôi Giáo Hoàng ngày 13/8/523. Là một con người rất nhiệt thành, suốt đời ngài chỉ sống câu: "Sống vì danh Chúa". Ngài rất có công trong việc hoàn tất điệu hát bình ca (Chant grégorien) mà các vị tiền nhiệm đã khởi xướng: Ðức Cêlestinô I, Lêô cả và Gêlase. Ngài còn tỏ ra là một vị chủ chăn đầy khôn ngoan và đạo đức. Năm 624, vua Auguste Justin I bên Tiểu Á, vì nhiệt thành với tôn giáo và cũng nhằm lợi ích chính trị, muốn thống nhất Giáo Hội nên đã đàn áp nhóm lạc giáo Ariô và chiếm hữu các cơ sở tôn giáo của họ. Việc đàn áp này đã gây nên một cuộc bất mãn và sinh ra sự chống đối tôn giáo và chính trị, và Ðức Gioan I chỉ là một con cờ hy sinh. Tại Rôma, vua Théođoric thuộc phái Ariô khi hay tin việc đàn áp này, liền nổi giận gửi tối hậu thư cho vua Justin, nhưng không kết quả.

Théođoric mới bắt Ðức Giáo Hoàng Gioan làm con tin và buộc dẫn đầu đoàn sứ giả sang vua Justin đòi trả lại tài sản và cho nhóm Ariô được tự do truyền đạo. Ðã nhiều lần ngài đứng lên phản đối trước mặt nhà vua. Sau cùng ngài chấp thuận đi. Lần đầu tiên trong lịch sử một Ðức Giáo Hoàng rời khỏi nước Ý. Vua Justin và toàn dân Constantinople hân hoan tưng bừng đón rước ngài. Ngài chủ lễ Phục Sinh tại Sainte Sophie một cách long trọng có mặt tất cả triều đình, dân Hy Lạp và La Tinh nữa. Nhà vua xin ngài phong vương, ngài đã đặt vương miện cho nhà vua. 

Khi về Rôma, vua Théođoric cho rằng ngài đã hành động ngược lại với mình, liền bắt ngài, định đem xử tử nhưng còn sợ dân chúng dấy loạn, liền giam ngài tại Ravenne và bỏ đói cho đến khi chết. Ngài lìa trần ngày 18/5/526. Xác ngài được đưa về Rôma ngày 27/5/530 và chôn cất trong vương cung thánh đường Vatican.

Ngày 20 Tháng Năm

Thánh Bernađinô thành Siêna, Linh Mục (1380-1444)

 

Ngày 07/9/1380 là ngày sinh nhật và cũng là ngày thánh Bernađinô Albizesca lãnh phép Rửa Tội. Ngài bị mồ côi mẹ từ hồi lên ba và mồ côi cha khi chưa đầy sáu tuổi, được một bà dì đạo đức nuôi nấng và dạy dỗ chu đáo. Với một lòng bác ái và thương xót đối với người nghèo, ngài tự nguyện hiến thân phục vụ các bệnh nhân tại nhà thương Ðức Bà Scala, ở Siêna. Ngày 08/9/1402, nhận ra tiếng Chúa, ngài liền bán hết của cải và xin nhập dòng Phanxicô. Sau đó, ngài lãnh chức linh mục và được các Bề Trên giao cho sứ mạng đi giảng thuyết. Mặc dù biết mình không có khả năng, nhưng ngài đặt hết tin tưởng vào sự trợ giúp của Thiên Chúa và đã lướt thắng được những khó khăn. Rảo qua khắp thành thị và làng xóm, lời giảng dạy và ơn cứu độ danh Chúa Giêsu đã lôi cuốn được nhiều người nghe theo. Ngài đã khôi phục lại được đời sống đạo đức và thuần phong mỹ tục đang trên đà xuống dốc. Ngài luôn hăng say và nhiệt thành với nghĩa vụ cho tới khi lâm bệnh nặng. Trước khi nhắm mắt, ngài xin chịu các phép Bí Tích và đã trút linh hồn trong tay Chúa tại thành Aquila, thọ 66 tuổi, vào ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống năm 1444.

Ngày 22 Tháng Năm

Thánh Micae Hồ Ðình Hy, Quan Thái Bộc (+ 1857)

 

Thánh Micae Hồ Ðình Hy sinh năm 1808 trong một gia đình quan lại và đạo đức tại làng Nhu Lâm, tỉnh Thừa Thiên. Ngay từ nhỏ, ngài đã tỏ ra có nhiều điểm đặc biệt về trí thông minh và lòng đạo đức. Khi chưa đầy 19 tuổi, ngài đã được cất nhắc lên làm thư lại cửu phẩm bộ công, và năm sau ngài lập gia đình.
Chân Phước Micae Hy đã sống chết với nhiệm vụ được trao phó, thương yêu bề tôi, chăm sóc kẻ bệnh hoạn, luôn luôn phục vụ công ích và không màng chi đến danh lợi, đến của cải phi nghĩa. Chính nhờ những đức tính quý báu ấy, ngài đã được thăng quan dần cho tới hàm tam phẩm làm thái bộc trông coi mọi việc trong đền vua. Về đời sống đạo đức, ngoại trừ một thời gian ngắn ngài sống bê tha biếng trễ, nhưng rồi đã ăn ăn hối lỗi và trở nên tấm gương sáng soi chung cho mọi người. Ngài đã được bầu làm trùm họ và phụ tá cho Ðức Giám Mục địa phận.

Ðến cuối năm 1856, một số các vị quan vốn ghét ngài vì thường bị ngài ngăn chặn trong những việc bất chính nên đã manh tâm dâng sớ tâu vua để tố cáo ngài về nhiều chuyện do họ bịa đặt: nào là liên lạc với Tây để âm mưu làm loạn, nào theo đạo Gia Tô trái lệnh triều đình.v.v... Vua Tự Ðức, vì đang sẵn ghét đạo, nên dù quý mến quan thái bộc, cũng đã truyền lệnh bắt ngài. Bị cách chức, bị tra khảo nhiều lần và bị hành hạ nhiều cách đến nỗi ngài gần phải buông xuôi, nhưng nhờ sự nâng đỡ của Ðức Giám Mục và nhờ có đức tin vững chắc nên cuối cùng ngài đã được lãnh nhận triều thiên tử đạo ngày 22/5/1857 do án trảm quyết tại pháp trường An Hòa (Huế).

Ngày 02/5/1909, Ðức Thánh Cha Piô X đã phong ngài lên hàng Chân Phước tử đạo.

Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19/6/1988.

Thánh Laurensô Ngôn, giáo dân (+ 1862)

Thánh Laurensô Ngôn là một thanh niên Công Giáo rất đạo đức và nhiệt thành. Trước kia ngài đã bị tống giam vì từ chối bước qua Thánh Giá, nay vì cơn bách hại càng ngày càng gay gắt, nên ngài đã bị bắt lại lần thứ hai. Dù bị cầm tù, ngài vẫn can đảm khuyên các bạn giữ vững đức tin. Trước những lời dụ dỗ ngon ngọt của quan tòa, ngài vẫn cương quyết trả lời: "Tôi tin kính Thiên Chúa, Ðấng tạo dựng trời đất, và sẽ không khi nào đạp lên Thánh Giá. Nếu quan để tôi sống thì hay lắm, bằng không, tôi vẫn hân hoan đón nhận cái chết".

Vì những lời anh hùng đó, ngài đã bị trảm quyết ngày 22/5/1862 tại Nam Ðịnh, sau tám tháng rưỡi tù tội đày ải.

Ðức Thánh Cha Piô XII đã tôn phong ngài lên hàng Chân Phước ngày 29/4/1951.

Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19/6/1988.

Ngày 25 Tháng Năm

Thánh Bêđa Vênêrabilê, 

Linh Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (673-735)

 

Thánh Bêđa sinh năm 673 tại Jarron vùng biên giới Anh Quốc và Ecosse. Ngài mồ côi cha khi lên bảy, nhưng bù lại người thụ hưởng nơi người mẹ một trí khôn sắc sảo và nhiều đức tính cao đẹp. Năm 682, ngài vào dòng Biển Ðức, sống một cuộc đời khiêm nhường, vâng lời và đơn sơ. Năm 29 tuổi, ngài lãnh chức linh mục và được cử làm giáo sư. Nhiệt thành với sứ mạng, ngài đã áp dụng những phương pháp mới, thích hợp với tâm lý. Ngoài việc dạy học, ngài còn viết nhiều sách có giá trị thuộc đủ mọi bộ môn như triết lý, toán học, và thường đảm nhiệm công tác đối chất với các lạc giáo. Nhưng điểm nổi bật hơn cả nơi ngài chính là đời sống nội tâm dồi dào, kết hiệp mật thiết với Chúa, hăng say cầu nguyện và trung thành với việc bổn mạng. Khi nằm trên giường bệnh với hai mắt mù lòa, ngài còn cố gắng đọc cho học trò chép bản dịch Phúc Âm Thánh Gioan. Ðến năm 735, ngài qua đời trong khi miệng vẫn còn đọc kinh "Sáng Danh" ca tụng Chúa. 

Ngày 13/11/1899, ngài được Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII truy phong lên bậc Tiến Sĩ Giáo Hội.

Thánh Grêgôriô VII, Giáo Hoàng (1015- 1085)

 

Thánh Grêgôriô VII tên thật là Hildebrand, sinh năm 1015 tại Sovana miền Toscane trong một gia đình trung lưu nước Ý. Ngài đã có công phục hưng tinh thần dạo đức của hàng giáo sĩ và tranh đấu cho tự do của Giáo Hội. Từ thời niên thiếu, ngài đã được sống trong bầu khí tu viện; và nhờ trí thông minh và lòng đạo đức, ngài đã thu lượm nhiều kết quả tốt đẹp. Khi Ðức Lêô IX lên ngôi, ngài được cử giữ những chức vụ quan trọng, và nhân dịp này, ngài đã đem hết tài lực ra ngăn chặn làn sóng sa đọa đang bành trướng trong Giáo Hội, bênh vực đức tin chống lại những giáo thuyết sai lầm của các bè rối. Ðược chọn làm Hồng Y, ngài giữ nhiều chức vụ và sứ mạng quan trọng dưới thời Lêô IX, Victo II, Stêphanô IX, Nicolao II và Alexandre II. Sau khi đức Alexandre mất (1073), ngài được bầu lên kế vị. Dù ở địa vị Giáo Hoàng, ngài vẫn tiếp tục sống một cuộc đời khắc khổ như cũ.

Dưới triều đại của ngài, Giáo Hội phải trải qua những giây phút đen tối nhất: tinh thần đạo đức bị sa sút, các đế quốc xâm lăng thánh địa và quyền hành của Hội Thánh bị chi phối. Bằng nguyện cầu, hy sinh và lòng nhiệt thành hăng hái, ngài cương quyết bảo vệ tự do, uy quyền và tài sản Giáo Hội. Chính vì thế, ngài đã gặp phải nhiều đau khổ. Bị ép buộc rời khỏi Rôma, và sau đó, ngày 25/5/1805, ngài qua đời tại Salec. Lời vàng ngọc của ngài trối lại khi sắp chết: "Tôi yêu sự công chính và ghét điều bất công. Ðó là lý do tôi phải chết trong cảnh lưu đày này". 

Tuy không đổ máu, nhưng đời sống tranh đấu của ngài xứng đáng được Ðức Grêgôriô VIII liệt vào hàng các vị tử đạo và được Ðức Phaolô V phong lên bậc Hiển Thánh.

Thánh Maria Mađalêna Ðệ Pazzi Ðồng Trinh (1566-1607)

 

Thánh nữ sinh ngày 02/4/1566 tại Florence nước Ý, thuộc gia đình Pazzi giàu sang và thế giá. Nhờ sự hướng dẫn của bà mẹ, Maria Mađalêna càng lớn càng thêm đức hạnh, nhất là lòng thương người và sự yêu thích cầu nguyện. Năm 16 tuổi, ngài từ hôn với một vị lãnh chúa và ngày 14/8/1582, ngài từ giã cha mẹ để hiến thân trong dòng kín, sống cuộc đời hoàn toàn khiêm nhượng, không làm mất lòng ai và luôn chu toàn những công tác theo luật dòng. Thêm vào đó, ngài thường giúp đỡ các chị em khác chu toàn công tác và săn sóc các chị em đau yếu. Về cuối đời, thánh nữ đã phải chịu cơn bệnh ung thư kéo dài lâu năm. Ngài luôn luôn lặp đi lặp lại câu: "Thà đau khổ hơn là chết". Sau cùng, vì cơn bệnh quá đau và kéo dài lâu ngày, ngài kiệt sức và trút hơi thở cuối cùng ngày 25/5/1607, hưởng thọ 41 tuổi. 

Ðức Giáo Hoàng Lêô IX đã tuyên phong ngài lên bậc Hiển Thánh ngày 28/4/1669.

Thánh Phêrô Ðoàn Văn Vân, Thầy Giảng (+ 1857)

 

Thánh Phêrô Ðoàn Văn Vân sinh năm 1780 tại làng Kẻ Bói tỉnh Hà Nam. Khi còn bé đã dâng mình cho Chúa vào sống trong Chủng Viện. Ðến năm 25 tuổi, thầy tình nguyện sống ở bậc kẻ giảng chuyên lo công việc truyền giáo bên cạnh các linh mục. Vì thầy rất chăm chỉ làm việc, sống đạo hạnh, nghèo khó nên Bề Trên giao cho thầy chức vụ quản lý, trông coi mọi việc trong xứ Bầu Nọ, tỉnh Sơn Tây.

Dưới thời vua Tự Ðức cấm đạo, ngài bị bắt và bị tố cáo là đạo trưởng, nhưng ngài đã khiêm nhường khai mình chỉ là thầy giảng chuyên lo giúp đỡ các linh mục. Cho dù bị các quan dụ dỗ và hành hạ, ngài quyết một mực giữ vững đức tin nơi Thiên Chúa và ước mong được phúc tử đạo. Do đó, ngài bị án trảm quyết và lý hình đã chém đầu ngài tại Sơn Tây ngày 25/5/1857, hưởng thọ 77 tuổi. Xác ngài được an táng tại họ Bách Lộc.

Ngày 02/5/1909, Ðức Thánh Cha Piô X đã tôn phong ngài lên bậc Chân Phước.

Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19/6/1988.

Thánh Gioan Ðoàn Trinh Hoan, Linh Mục 

Và Matthêu Nguyễn Văn Phượng, Trùm Họ (+ 1861)

 

Thánh Gioan Ðoàn Trinh Hoan sinh năm 1798 trong một gia đình đạo hạnh tại làng Kim Long, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Người được cậu ruột là cha Kiệt nuôi cho ăn học và giới thiệu gia nhập Chủng Viện Pénang (Mã Lai). Khi mãn trường, ngài trở về Ðàng Trong giúp Ðức Cha Taberd rồi Ðức Cha Cuénot, và thụ phong linh mục khoảng năm 1836. Sau đó được cử đi coi sóc các xứ Kẻ San thuộc tỉnh Quảng Bình, Bãi Trời thuộc Quảng trị, trở về Thừa Thiên một thời gian rồi lại đến ở Mỹ Hương (Quảng Bình).

Ngày 03/01/1561, vì có kẻ tố giác nên ngài bị bắt tại họ Sáo Bùn và bị áp giải về Ðồng Hới. Mặc dù chịu tra khảo, bị đánh đập nhiều lần, ngài vẫn hiên ngang tuyên xưng đức tin.

- Thánh Matthêu Nguyễn Văn Phượng sinh tại làng Kẻ Lái, Lý Nhơn thuộc tỉnh Quảng Bình. Khi trưởng thành, nhờ trí khôn ngoan và lòng đạo đức hiếm có, ngài được mọi người tín nhiệm bầu làm trùm họ Sáo Bùn.

Ngày 03/01/1861, ngài bị bắt vì tội chứa chấp cha Gioan Hoan và oa trữ đồ lễ cùng sách vở Công Giáo. Ngài bị giải về Ðồng Hới và bị giam cách biệt với cha Hoan. Trong tù ngài vẫn luôn giữ vững lòng tin vào Thiên Chúa và sẵn sàng đổ máu để nên chứng nhận nước trời.

Ngày 25/5/1861, án lệnh xử tử cha Gioan Hoan và ông trùm Matthêu Phượng được vua Tự Ðức châu phê về tới Ðồng Hới. Hôm sau, hai ngài gặp nhau trên đường đi tới pháp trường và cùng chịu trảm quyết một nơi.

Ðức Thánh Cha Piô X đã tôn phong hai ngài lên bậc Chân Phước ngày 02/5/1909.

Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô đã tôn phong Hiển Thánh ng   ày 19/6/1988.

Ngày 27 Tháng Năm

Thánh Augustinô Cantorbéry, Giám Mục (+604)

 

Augustinô Cantorbéry là Bề Trên tu viện thánh Anrê ở Rôma. Ngài được Ðức Grêgôriô cả gửi sang truyền giáo bên nước Anh với gần 40 vị thừa sai vào năm 597, vì nước Anh đã được giảng đạo ngay từ thế kỷ đầu, nhưng vì ảnh hưởng của ngẫu tượng giáo và sự xâm lăng của các sắc dân Saxon, Ðức Tin Công Giáo đã bị lu mờ hòa toàn và hầu như sắp tàn lụi. Với lòng nhiệt thành hăng say, thánh nhân rảo qua nhiều thành, khôi phục cùng đem lại đức tin cho nhiều người, trong đó có quốc vương Ethelbert và nhiều nhân vật trong chính quyền. Các nhà thờ cũng bắt đầu mọc lên. Ngày 16/11/597, ngài được phong làm Giám Mục và lập tòa ở Cantorbéry, rồi sau đó được ủy thác thành lập hàng giáo phẩm nước Anh.

Công cuộc của ngài không phải ít sóng gió và gian khổ, nhất là sự chia rẽ giữa nhóm truyền giáo cũ và mới. Nhưng với lòng kiên nhẫn, can đảm và tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa, ngài ăn chay, cầu nguyện và dùng việc làm để giải quyết vấn đề hơn là lời nói.

Sau chuỗi ngày làm việc tận tụy, ngài đã từ trần vào ngày 26/5/604. Và ngày 28/7/1882, Ðức Lêô XIII đã tôn phong ngài lên bậc Hiển Thánh.

Thánh Phaolô Hạnh, Giáo Dân (+ 1859)

 

Thánh phaolô Hạnh sinh năm 1827 tại Sài Gòn. Ngài là một giáo dân đạo đức, bị bắt và bị xử trảm ngày 28/5/1859 dưới triều Tự Ðức.

Ngày 02/5/1909, Ðức Thánh Cha Piô X đã tôn phong ngài lên bậc Chân Phước.

Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19/6/1988.

Ngày 31 Tháng Năm

Ðức Mẹ Ði Thăm Bà Isave

 

Ngay sau biến cố truyền tin, Ðức Maria đã vội vã lên đường đi thăm chị họ mình là Elisabeth sắp tới ngày sinh. Thoạt khi nghe lời Maria chào, người con trong lòng bà đã nhảy mừng. Ðược Chúa Thánh Thần linh ứng, bà đã thốt lên: "Bởi đâu tôi được diễm phúc Mẹ Thiên Chúa đến thăm tôi... và phúc cho em vì em đã tin và lời Chúa phán truyền cho em sẽ được ứng nghiệm".

Trong lần gặp gỡ này, Ðức Trinh Nữ tràn ngập nỗi hân hoan, đã đáp lời bằng ca khúc Magnificat, bài ca biểu lộ lòng biết ơn và tình yêu đối với Thiên Chúa, bài ca Người đã thầm hát trong lòng ngay từ giây phút thiên sứ báo tin.

Giáo Hội đã đặt ngày lễ hôm nay để kính nhớ cuộc hội ngộ đầu tiên của Ðấng Cứu Thế và vị Tiền Hô của ngài. Lễ này đã được thánh Bonaventura cổ vũ bên Tây phương, và đến năm 1389 được phổ biến trong toàn thể Giáo Hội.

Chúng ta hãy xin Ðức Mẹ ban cho chúng ta được tâm tình bác ái như ngài đã có trong cuộc viếng thăm và giúp đỡ bà Elisabeth.