Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2026

CN 12 TNA ANH EM ĐỪNG SỢ

CN 12 TNA                                                   ANH EM ĐỪNG SỢ

Jim Caviezel, người đã thủ vai Chúa Giêsu trong bộ phim “The Passion of the Christ” đã tâm sự rằng: khi anh được chọn đóng vai Chúa Giêsu thì nhiều người cảnh báo là không nên nhận vai Chúa Giêsu vì nó sẽ hủy hoại sự nghiệp của anh.

Và trong quá trình quay phim “The Passion of the Christ”, Jim Caviezel bị sụt 45 pound, bị sét đánh, bị roi hai lần vô tình đánh để lại vết sẹo 14 inch, bị trật khớp vai, và bị viêm phổi và hạ thân nhiệt. Cơ thể của anh quá căng thẳng và kiệt sức vì nhập vai đến nỗi anh ấy đã phải phẫu thuật tim 2 lần! Chỉ riêng cảnh đóng đinh đã mất 5 tuần trong thời gian quay 2 tháng.

 “The Passion of the Christ” sau đó trở thành bộ phim xếp hạng có doanh thu cao nhất mọi thời đại ở Mỹ, với $ 370,8 triệu! Trên toàn thế giới, nó đã thu về 611 triệu đô la. Quan trọng nhất, nó đã đến được với nhiều linh hồn trên khắp thế giới.

Khi hoàn thành bộ phim anh nói: Tôi tự hào vì được tuyên xưng niềm tin của mình vào Chúa Kitô giữa sự vô thần của Hollywood.

Quả thực, Jim Caviezel đã vượt qua mọi sợ hãi, mọi gian khổ để có thể giới thiệu một Đức Kitô bằng xương bằng thịt cho nhân loại. Một Đức Kitô đã chịu mọi đớn đau thân xác chỉ vì yêu nhân loại. Một Đức Kitô đã dám chết cho người mình yêu.

 “Đừng sợ” khi làm chứng về Đức Kitô. Lý do đừng sợ là bởi vì Cha trên trời đã lưu ý đến cả những con chim chẳng đáng giá gì, cả từng sợi tóc trên đầu từng người, huống chi là con người là hoạ ảnh của Chúa. Đừng sợ gian khó, hay sự bách hại của thế gian, vì Chúa đã chiến thắng thế gian và Ngài còn hứa ban thưởng cho những ai dám tuyên xưng Ngài ra trước mặt thiên hạ.

Lời mời gọi “Anh em đừng sợ” ấy như vẫn đang nói với con người hôm nay. Hãy sống lạc quan trong sự quan phòng của Thiên Chúa. Ngài sẽ gìn giữ và canh chừng chúng ta cho dầu sự dữ vẫn bủa vây chung quanh. Vì “ngay cả đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi. Vậy anh em đừng sợ, anh em còn qúy giá hơn muôn vàn chim sẻ ngòai đồng" (Mt10,30-31)

Như vậy, nếu chúng ta vẫn còn sợ nghĩa là đức tin chúng ta còn yếu kém. Chúng ta còn sợ nghĩa là chúng ta chưa tin tưởng tuyệt đối vào sự quan phòng đầy yêu thương của Chúa. Chúa là Đấng quyền năng, Ngài có thể làm ra mọi sự thì Ngài cũng có đủ sự khôn ngoan, sức mạnh để hướng dẫn mọi sự theo ý muốn của Ngài. Vì thế, chúng ta hãy mạnh dạn phó thác đường đời cho Chúa. Chính Người sẽ hướng dẫn và bảo vệ cuộc đời chúng ta trong tình yêu quan phòng của Ngài.

Cuộc sống hôm nay vẫn còn đó những người sợ khi làm chứng cho Tin Mừng. Họ sẽ bị thế gian ghét bỏ, vu khống, loại trừ. Họ sợ mất chức, mất việc, mất ghế ngồi sang trọng trong công đường. Họ đã để cho Tin Mừng bị bóp nghẹt khi im lặng trước cái xấu. Có khi chính những môn đệ của Chúa lại ngăn cản anh em mình làm chứng cho công lý và sự thật.

Nhưng cám ơn Chúa vì trong dòng đời đầy mưu toan của ma quỷ vẫn còn đó những sứ giả trung kiên nói về Chúa và nói về những sai lầm của thế gian. Dù cuộc đời của họ có thể bị loại trừ hay cắt hết mọi chức vụ, nhưng đức tin của họ luôn toả sáng giữa bóng tối bất công thù hận hôm nay.

Xin Chúa hãy gìn giữ những sứ giả của Chúa. Xin Chúa thêm sức để chính chúng con cũng vượt qua mọi sợ hãi để làm chứng cho Tin Mừng. Amen.

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

  

CN 12 TNA ĐỪNG SỢ

CN 12 TNA                                                        ĐỪNG SỢ

Người ta nói rằng: "Lo sợ là điều tai hại nhất, nó là kẻ phá hoại đáng sợ nhất". Nhưng dường như trong cuộc sống chúng ta luôn đối diện với những nguy hiểm vượt qúa suy nghĩ, toan tính của chúng ta,  khiến chúng ta luôn lo âu và sợ hãi.

Sau đại dịch Covid 19 cũng có biết bao điều khiến con người lo sợ. Họ sợ dịch tái phát. Sợ thất nghiệp. Sợ cướp bóc bạo loạn bởi đói nghèo. Sợ chiến tranh nếu xảy ra sẽ dẫn đến nghèo đói và loạn lạc . . .

Thực ra, nếu nói về sợ, chúng ta có muôn vàn nỗi sợ: sợ bệnh tật, sợ già nua, sợ chết chóc. Sợ tai họa, sợ chiến tranh, sợ nghèo đói.  Sợ bóng tối, sợ khổ đau, sợ ngu dốt v.v...

Chúa nhắc chúng ta đừng sợ vì tất cả những sự dữ ấy không làm mất đi sự sống đời đời trong ta. Điều Chúa muốn nhắc chúng ta là hãy tin tưởng cậy trông vào Chúa. Hãy để Chúa bảo vệ che chở cuộc sống chúng ta. Điều duy nhất mà Chúa mong ước nơi chúng ta là hãy giữ vững đức tin trước mọi nguy nan.

Chúa luôn nhắc đi nhắc lại rằng: Anh em đừng sợ. Hãy sống lạc quan trong sự quan phòng của Thiên Chúa. Ngài sẽ gìn giữ và canh chừng chúng ta khỏi mọi sự dữ đang rình rập chung quanh cuộc đời chúng ta. Vì ngay cả đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi. Vậy anh em đừng sợ, anh em còn qúy giá hơn muôn vàn chim sẻ ngòai đồng" (Mt 10,30-31)

Như vậy, nếu chúng ta vẫn còn sợ nghĩa là đức tin chúng ta còn yếu kém. Chúng ta còn sợ nghĩa là chúng ta chưa tin tưởng tuyệt đối vào sự quan phòng đầy yêu thương của Chúa. Chúa là Đấng quyền năng, Ngài có thể làm ra mọi sự thì Ngài cũng có đủ sự khôn ngoan, sức mạnh để hướng dẫn mọi sự theo ý của Ngài. Vì thế, chúng ta hãy mạnh dạn phó thác đường đời cho Chúa. Chính Người sẽ hướng dẫn và bảo vệ cuộc đời chúng ta trong tình yêu quan phòng của Ngài.

Cuộc đời luôn có những thăng trầm, nhưng chúng ta tin rằng chính Chúa sẽ dìu chúng ta đi qua những thăng trầm của cuộc đời, miễn là chúng ta biết tin tưởng và cậy trông vào Chúa. Ngài sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Ngài sẽ làm những việc tốt đẹp nhất cho cuộc đời chúng ta. Vì mạng sống chúng ta thật quý giá hơn so với vạn vật mà Ngài đã tạo dựng nên.

Có một anh sĩ quan trẻ. Một hôm anh đi du lịch bằng đường thủy với vợ con. Tàu rời bến được vài ngày thì gặp bão. Mọi người rất sợ, còn anh thì bình thản như chẳng có gì xảy ra. Vợ anh trách là anh không quan tâm gì đến an nguy của vợ con. Anh không nói nhiều, vào phòng rồi quay trở ra với một thanh kiếm trong tay. Anh dí mũi kiếm vào ngực vợ. Lúc đầu cô vợ tái mặt, nhưng liền sau đó bỗng cười lớn tiếng không tỏ gì là sợ hãi nữa.

- Viên sĩ quan nói: Làm sao em có thể cười khi anh dí mũi kiếm vào ngực em?

- Bà vợ đáp: Làm sao em sợ được khi lưỡi kiếm ấy ở trong tay một người rất thương mến em!

- Anh chồng đáp: Vậy tại sao em lại muốn anh sợ cơn bão này, khi anh biết rằng nó ở trong tay của cha anh là người hằng yêu mến anh?

Ước gì chúng ta luôn dám gạt ra ngoài mọi nỗi sợ hãi. Hãy can đảm sống làm chứng cho Chúa và luôn tin tưởng phó thác cuộc đời trong bàn tay quan phòng của Chúa. Và cũng trong đức tin đó, chúng ta sẽ vượt thắng được mọi nghi nan, sợ hãi để tâm hồn luôn bình an hạnh phúc.

Lạy Chúa, Chúa đã chăm sóc từng con chim trên trời và đếm từng sợi tóc trên đầu chúng con. Xin gìn giữ, chở che cuộc đời chúng con trong bàn tay quan phòng của Chúa luôn mãi. Amen.

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

  

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

CN 11 TN A TÌNH YÊU

CN 11 TN A                                                      TÌNH YÊU   

Ruddell Norris là một chàng trai cần mẫn, nhưng lại có tính nhút nhát. Nói chuyện với kẻ khác chàng đã thấy khó khăn rồi, huống chi phải bàn chuyện tôn giáo với họ. Thế rồi một ngày kia, chàng nảy ra một ý kiến.

Ruddell đọc sách khá nhiều và chàng biết có nhiều cuốn sách nói về đức tin Công giáo. Vì vậy chàng quyết định dành ra một phần tiền tiết kiệm hàng tuần để mua những cuốn sách ấy. Ruddell để những cuốn sách ấy ở những nơi mà chàng nghĩ người ta có thể cầm lên đọc để giết thời giờ. Chẳng hạn như ở những phòng đợi khám bệnh và phòng tiếp khách.

Ngày kia, có một phụ nữ vốn là bạn của gia đình chàng kể cho cha mẹ chàng biết vợ chồng cô ấy đã theo đạo Công Giáo như thế nào. Cô nói: “Tất cả bắt đầu do một cuốn sách nhỏ mà tôi đã tìm thấy tại phòng đợi ở bệnh viện”.

Có nhiều linh mục, tu sĩ và ngay cả giáo dân, thay vì tặng quà hay phát thưởng bằng những món quà vật chất, họ lại trao gởi những cuốn sách thiêng liêng, sách đạo đức, sách giáo dục như những món quà đầy ý nghĩa và hữu ích cho đời sống tâm linh của con người. Đó là một trong những cách hữu hiệu để thi hành sứ mệnh truyền giáo mà hôm nay Đức Giêsu kêu gọi: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”. Qua lời Đức Giêsu dạy, thì cầu nguyện chính là nguồn mạch, là nền tảng, và là công việc truyền giáo đầu tiên. Nếu chúng ta cầu nguyện cho việc truyền giáo, thì những thợ gặt đầu tiên mà Thiên Chúa có trong tay, chính là chúng ta. Như ngôn sứ Isaia, chúng ta cũng thưa cùng Chúa: “Lạy Chúa, này con đây, xin Chúa hãy sai con”.

Không chỉ xin Chúa sai chúng ta đi truyền giáo mà thường xuyên chúng ta phải cầu xin Chúa thôi thúc các bạn trẻ quảng đại dấn thân trong ơn gọi linh mục và tu sĩ.

Không chỉ xin Chúa ban thêm nhiều người tận hiến mà thường xuyên chúng ta cầu xin Chúa thôi thúc các gia đình rộng tay giúp đỡ tài chánh cho các công cuộc truyền giáo.

Không chỉ xin Chúa mở rộng đôi tay mà còn tha thiết xin Người mở rộng trái tim mọi thành phần dân Chúa, để có nhiều nhà truyền giáo tình nguyện dấn thân mở mang nước Chúa.

Nếu cầu nguyện là nguồn mạch của công việc truyền giáo, có nghĩa là nó phải được ưu tiên trên bất cứ chương trình, kế hoạch hay phương pháp truyền giáo nào.

Nếu cầu nguyện là nền tảng của hoạt động truyền giáo, thì chúng ta phải xem sự khủng hoảng ơn gọi chính là vì thiếu sự chuyên tâm cầu nguyện.

Nếu cầu nguyện là việc đầu tiên của công cuộc truyền giáo, thì chúng ta phải hiểu là sứ vụ tông đồ chỉ có hiệu quả khi chúng ta biết không ngừng cầu nguyện cho những người mà chúng ta muốn lôi cuốn. Công đồng Vaticanô II đã khẳng định: “Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo”. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng quả quyết: “Không một ai trong những người tin vào Đức Kitô, không một tổ chức nào trong Giáo Hội được miễn khỏi trách vụ cao cả này: Đó là loan báo Đức Kitô cho mọi dân tộc” Sứ mạng truyền giáo ấy, hôm nay đã được Đức Giêsu trao cho 12 tông đồ, cột trụ của Giáo Hội, để tiếp tục sứ mạng cứu rỗi của Người. Chính vì thế mà thánh Phaolô Tông đồ luôn tự nhắc nhở mình rằng: “Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”.

Nhưng phải rao giảng những gì? Cho ai? Và bằng cách nào? Đức Giêsu dạy: “Hãy đi rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần. Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh và khử trừ ma quỉ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy”. Như thế, nội dung của sứ điệp là Nước trời, hành trang là Lời Chúa, đối tượng là người nghèo khổ, bị bỏ rơi bên lề xã hội, phương pháp là yêu thương và cho đi. Thật vậy, chính sự cho đi vô vụ lợi, yêu thương mà không mong đền đáp là bí quyết thành công trong việc truyền giáo. P. Babin đã nói: “Người ta chỉ có thể tin vào Đức Giêsu Kitô khi người ta tin vào tình yêu của những kẻ loan báo Người”.

Ý thức được sứ mạng truyền giáo ấy, trong sứ điệp kết thúc hội nghị Hồng Y đoàn lần thứ sáu, ngày 24 tháng 05 năm 2001, đã nhấn mạnh: “Cần xây dựng một Giáo Hội cầu nguyện nhiều hơn, truyền giáo nhiều hơn, nghèo khó hơn, liên đới với nhân loại hơn, cách riêng với những người đau khổ, túng cực, bị loại ra ngoài lề xã hội”. Amen.

Thiên Phúc 

Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2026

“HỎI” của Hữu Thỉnh

“HỎI”  của Hữu Thỉnh

“Tôi hỏi đất: - Đất sống với nhau như thế nào?

- Chúng tôi tôn cao nhau.

Tôi hỏi nước: - Nước sống với nhau như thế nào?

- Chúng tôi làm đầy nhau.

Tôi hỏi cỏ: - Cỏ sống với nhau như thế nào?

- Chúng tôi đan vào nhau

Làm nên những chân trời.

Tôi hỏi người:

- Người sống với người như thế nào?

Tôi hỏi người:

- Người sống với người như thế nào?

Tôi hỏi người:

- Người sống với người như thế nào?”

(“Hỏi”, Hữu Thỉnh)

 

“Thơ ca như một nguồn sáng vĩnh cửu, luôn hướng tới sự phục sinh, tái tạo thế giới, đối lập với những gì xấu xa và gian tà. Vẻ đẹp của thơ ca chính là ánh sáng đẩy lùi bóng tối, là dòng nước mát tưới xanh tâm hồn con người”. Nguồn sáng ấy rực rỡ ấy trong bài thơ “Hỏi” đã để lại trong tôi nhiều suy tư về cách sống, về mối quan hệ giữa người và người trong sự tôn trọng, sẻ chia và gắn kết. Có thể nói, thi nhân đã âm thầm đặt ra những câu hỏi day dứt về thực trạng xã hội hiện đại, thôi thúc mỗi người nhìn lại cách sống của chính mình hôm nay.

Ý nghĩa triết lý cuộc sống

Bài thơ "Hỏi" của Hữu Thỉnh (1992) là một tác phẩm giàu tính triết lý, sử dụng hình thức đối thoại giữa nhân vật trữ tình với thiên nhiên để khám phá lối sống đẹp giữa con người với nhau. Tác giả đã khéo léo chuyển hóa những hiện tượng tự nhiên thành những bài học nhân sinh sâu sắc:

 

Đất tôn cao nhau: Thể hiện sự nâng đỡ, hỗ trợ lẫn nhau để cùng phát triển và khẳng định giá trị cá nhân.

Nước làm đầy nhau: Biểu tượng cho sự cảm thông, chia sẻ và bù đắp những tổn thương, khoảng trống trong cuộc sống.

Cỏ đan vào nhau: Khẳng định tinh thần đoàn kết, gắn bó tạo nên sức mạnh tập thể và mở rộng không gian sống cho mỗi cá nhân.

Đặc biệt, khi đặt câu hỏi về cách sống của con người, bài thơ không đưa ra câu trả lời trực tiếp mà lặp đi lặp lại ba lần, tạo nên sự day dứt và suy ngẫm sâu sắc. Câu hỏi này như một lời nhắc nhở mỗi người về trách nhiệm phải sống tử tế, sẻ chia và đoàn kết với nhau để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

 

CN MMTC HY LỄ THẬP GIÁ

CN MMTC                                          HY LỄ THẬP GIÁ

Hôm nay lễ suy tôn Thánh Thể. Nói đến Thánh thể người ta thường hay nói đến một bữa ăn, một bữa ăn Agape, bữa ăn huynh đệ. Nhưng thực ra, “Bản chất của Bí tích Thánh Thể không chỉ là bữa ăn chung, mà còn và trước tiên là hiện tại hóa hy lễ thập giá. Thiếu giá trị hy tế, Mầu Nhiệm Thánh Thể không có ý nghĩa và chỉ có giá trị như là một buổi gặp gỡ giao hảo và huynh đệ” (Bí tích cứu độ).

Vì thế hôm nay, chúng ta cùng nhau khơi gợi lại ý nghĩa và những giá trị thiêng liêng của thánh lễ.

Một họa sĩ người Ý, đã diễn tả giá trị thánh lễ qua bức tranh như sau: Khi linh mục dâng lễ, trên đầu ngài có 4 thiên thần bay lượn, miệng ngậm loa, sẵn sàng báo tin ngày chung thẩm của thế giới. Nhưng xem ra các Ngài còn chờ đợi cho tới khi linh mục cuối cùng này cử hành xong thánh lễ giao hòa dâng lên Thiên Chúa, mới gióng lên tiếng loa định mệnh này.

Thực vậy, Mẹ Têrêsa thành Calcutta thường hay nói với các chị em trong dòng rằng: “Không có thánh lễ Misa, chúng ta sẽ ra sao, mọi sự dưới gầm trời này hẳn sẽ bị tiêu hủy, chỉ có thánh lễ mới ngăn được tay Thiên Chúa. Không có thánh lễ, chắc chắn giáo hội sẽ không còn tồn tại và thế giới ắt sẽ bị diệt vong”.

Vì cử hành thánh lễ là hiện tái hóa hy tế thập giá năm xưa của Chúa Kytô trên thập giá. Máu Thánh Chúa được tiếp tục đổ ra cho nhiều người được tha tội, được ơn cứư độ. Hy tế thập giá của Chúa Kytô hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn tiếp tục tái diễn để giao hòa thế gian với Thiên Chúa.

Nhìn vào thế giới hôm nay, người ta thấy tội lỗi mỗi ngày một gia tăng, sự dữ ngày càng ngập tràn. Tại sao Thiên Chúa không trút cơn thịnh nộ xuống trên địa cầu? Thưa, bởi vì hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, Con Chiên Thiên Chúa tế lễ trên bàn thờ, xoa dịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa Cha, “và tước khí giới nơi bàn tay sẵn sàng sửa phạt của Ngài”. Chúng ta không thể đếm được các tia lửa từ các ông khói tàu thủy tung tóe ra. Thế mà, các tia lửa đó không gây hỏa hoạn. Vì chung rơi xuống biển và dập tắt ngay. Cũng không thể đếm được các tội ác hằng ngày từ trái đất xông lên và đòi sự công thẳng của Thiên Chúa. Nhưng nhờ sự giải hòa của Thánh lễ, chúng ta được đẩy vào đại dương của lòng từ bi Thiên Chúa và hình phạt đã không trút xuống địa cầu.

Thánh Laurensô Giustinianô nói: “lưỡi loài người không thể kể hết những ơn phúc từ thánh lễ: nào là tội nhân được giao hòa với Thiên Chúa, người công chính nên công chính hơn, tội lỗi được xóa sạch, nết xấu được giảm thiểu, nhân đức và công nghiệp gia tăng, kế hoạch của ma quỷ bị bẻ gãy”.

Cha sở họ Ars: “Mọi việc lành họp lại cũng không thể so sánh với thánh lễ Misa, vì mọi việc lành là của loài người, còn thánh lễ là của Thiên Chúa”.

Thế nhưng, hôm nay nhiều người vẫn xem nhẹ thánh lễ. Họ đi lễ nhưng thiếu tấm lòng đón nhận ơn cứu độ, ơn tha thứ của Chúa. Đi lễ cho qua lần chiếu lượt. Đi lễ vì luật buộc. Vì người khác đi mình cũng được. Có mấy ai ý thức giá trị của hiến tế thập giá. Có mấy ai hiểu được hy tế thập giá cần phải được cử hành mỗi ngày để xin ơn tha tội và để Con Thiên Chúa lại tiếp tục đổ máu mình ra để giao hòa với Chúa Cha.

Bên cạnh đó, khi tham dự thánh lễ là chúng ta thông hiệp vào Mình và Máu Thánh Chúa Kytô. Chúng ta được kết hợp nên một trong Chúa Kytô. Chúa Kytô là Đầu Hội Thánh đã dâng chính mình làm tế lễ, còn chúng ta là những chi thể trong nhiệm thể của Người, chúng ta cùng ăn một bánh, cùng uống một chén thánh là chính Mình Máu Thánh Chúa Kytô, chúng ta có cùng chịu hiến tế chính mình như Đức Kytô là Đầu của Hội thánh hay không? Liệu rằng, chúng ta có thể đứng nhìn Chúa chịu sát tế, còn mình không chịu làm gì cả, hay chỉ đứng đó như những khách bàng quang, đứng bên vệ đường nhìn xem máu Chiên Con vô tội đang đổ ra vì loài người, mà lòng mình không cảm thấy một chút hổ thẹn hay ái ngại lương tâm? Chúa Kytô vẫn đang đổ máu vì tội lỗi loài người. Giáo hội vẫn đang hiệp thông với đau khổ của Con Chiên Thiên Chúa, còn chúng ta sẽ đóng góp phần vụ gì trong việc đền tội cho thế giới và cứu độ trần gian?

Chúng ta biết rằng, trên bàn thờ tế lễ Giáo hội buộc phải có tượng Chúa chịu nạn, chính là để nhắc nhở chúng ta phải hy sinh, phải dâng hiến mình như Chúa Giêsu đã hiến dâng. Phải đóng góp phần chúng ta như Mẹ Maria đã đóng góp chính nỗi đau khổ xé nát lòng mình, hiệp thông với đau khổ của Chúa Giêsu để dâng lên Chúa Cha.

Thiết tưởng để thánh lễ thực sự mưu ích cho phần rỗi chúng ta và cho toàn thể nhân loại. Mỗi người chúng ta cũng phải biết gom góp hy sinh mỗi ngày như những hạt lúa bị nghiền nát, như trái nho ép thành chén rượu mới có của lễ để dâng trên bàn thờ. Đó chẳng phải là mồ hôi nước mắt trong lao công con người làm nên hay sao? Đó chẳng phải là những hy sinh, những chén đắng trong cuộc đời mà mỗi người chúng ta đang chấp nhận vì lòng yêu mến Chúa hay sao?

Lạy Chúa, xin nhận lấy hạt lúa nghèo nàn này, nó thuộc về Chúa. Dưới cối xay của bổn phận trong bậc sống của mình, của những thập giá Chúa gởi tới. Xin cho con được nghiền nát cho Chúa, và xin cho ngọn lửa tình yêu mến làm con trở nên một tấm bánh tinh tuyền dâng lên trước tôn nhan Chúa. Amen.

 

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2026

CNMMTCG BỮA TIỆC

CNMMTCG                                                 BỮA TIỆC

Để cổ động cho việc cầu nguyện chung trong gia đình, linh mục Pê-tanh đã nói: “Gia đình nào cầu nguyện chung với nhau thì sẽ sống hiệp nhất với nhau”. Việc cầu nguyện chung trong gia đình sẽ củng cố mối dây hiệp nhất mọi thành phần với nhau mỗi ngày một thêm bền chặt. Dù không muốn nói ngược lại linh mục Pê-tanh và không muốn làm giảm giá trị của việc cầu nguyện chung trong gia đình, nhưng cha Gioan Tô-mát, dòng Tên đã nhấn mạnh một khía cạnh khác, cũng quan trọng không kém, đó là việc dùng cơm chung với nhau thì sẽ sống hiệp nhất với nhau.

Bữa ăn chung trong gia đình có một tầm quan trọng và ý nghĩa đặc biệt của nó mà ngày nay nhiều người đã bỏ quên hoặc không quan tâm cho đủ. Không phải bất cứ người xa lạ nào cũng có thể ngồi vào bàn ăn dùng bữa chung trong gia đình. Một người nào được mời dùng bữa với gia đình là dấu chỉ được chấp nhận vào tình thân với gia đình đó, người được mời đến dùng bữa với gia đình là người được gia đình đó quý mến. Bữa ăn tạo dựng sự hiệp thông và yêu thương thân thiết ngày càng bền chặt hơn.

Bữa ăn chung trong gia đình làm cho mọi thành phần vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh chị em được hiệp nhất với nhau, được dịp chia sẻ những niềm vui, những quan tâm lo lắng của nhau. Nếu quan sát thêm chúng ta sẽ thấy vai trò của mỗi người được biểu lộ cách rõ ràng trong bữa ăn chung. “Một gia đình dùng bữa chung với nhau sẽ sống hiệp nhất với nhau”, lý tưởng là như thế, nhưng không phải tất cả mọi người, mọi gia đình ngày nay đều có thể thực hiện được lý tưởng cao đẹp này. Nhiều gia đình đã bỏ mất dịp tốt này, mọi người vội vàng lo cho mình có chút gì vào bụng rồi mau chóng đi lo công việc riêng, mọi người không còn xếp đặt công việc để có thể tham dự bữa cơm chung trong gia đình nữa, nhưng mỗi người xếp đặt đời sống theo một sở thích riêng hay một nhu cầu riêng. Cha mẹ lo làm việc xếp đặt đời sống chạy theo công việc nên không còn quan tâm đến việc ăn cơm chung với con cái; phần con cái bận việc với bạn bè hay công việc riêng của mình nên cũng chẳng màng chi đến bữa cơm chung. Mỗi người trong gia đình đều có lý do riêng để không ăn cơm chung với nhau, nhiều gia đình ngày nay tan vỡ có lẽ vì hai lý do: không cầu nguyện chung với nhau và không ăn cơm chung với nhau. Chúng ta hãy nhìn lại gia đình mình và kiểm điểm theo hai nguyên tắc căn bản trên: cầu nguyện chung và dùng cơm chung.

Chúa Giêsu cũng dùng một bữa ăn, bữa ăn tối cuối cùng với các môn đệ để thiết lập Bí Tích Thánh Thể. Chúa đã làm cho bữa ăn cuối cùng này không phải là bữa ăn chứng tỏ tình bạn như trước đây, cũng không phải là bữa ăn để Ngài tự tỏ mình ra như một Môsê mới bằng cách ban phát Manna mới cho họ qua việc hóa bánh ra nhiều, nhưng là bữa ăn liên kết tình bạn và tình yêu.

Chính vì thế thánh Gioan đã viết: “Ngài đã yêu thương các môn đệ của Ngài và đã yêu thương họ đến cùng”. Yêu thương đến cùng có nghĩa là yêu thương đến tột bực. Tột bực tình yêu của Ngài ở đây là việc lập Thánh Thể. Thực vậy, Chúa Giêsu đã ghi dấu đặc biệt của Ngài nơi bữa tiệc này, để từ nay Ngài trở thành nơi gặp gỡ tình yêu giữa chúng ta với Ngài và giữa chúng ta với nhau.

Vì thế, Thánh Thể được gọi là bí tích của sự hiện diện. Chúa Giêsu vừa báo trước cho các môn đệ là Ngài sẽ giã từ thế gian để về cùng Cha. Ngài sẽ phải xa cách họ luôn sao? Không, trong tình yêu thương, Ngài đã tìm ra một phương thế để ở lại với các môn đệ và qua mọi thời gian, ở lại với tất cả những ai tin vào Ngài. Phương thế tuyệt diệu đó là Bí tích Thánh Thể, nhờ đó Ngài hiện diện thực sự và trải dài sự hiện diện đó đến tận cùng thời gian qua mọi người để ban cho họ những điều tốt lành.

Đây là một mầu nhiệm đức tin, bởi vì lý trí chúng ta không hiểu được, giác quan chúng ta không cảm nhận được, chỉ có đức tin dạy cho chúng ta biết: Chúa hiện diện thật sự trong Bí Tích Thánh Thể, nên khi rước lễ là chúng ta ăn Mình Chúa và uống Máu Chúa, là lương thực vừa giúp chúng ta sống khỏe, sống mạnh, sống tốt đẹp ở đời này vừa bảo đảm cho sự sống lại và cuộc sống vĩnh cửu, như Chúa đã quả quyết: “Ai ăn Thịt Tôi và uống máu Tôi thì Tôi sống trong người ấy, và Tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết và được sống đời đời”. Như vậy, người ăn Mình Chúa và uống Máu Chúa sẽ thuộc về Chúa ngay từ đời này và mai ngày thuộc về Ngài mãi mãi. Thánh Thể là dấu chỉ cho đời sống vĩnh cửu đã khởi sư, và là bảo chứng cho sự sống lại ngày sau hết. Vì vậy, chúng ta hãy siêng năng rước lễ để chúng ta được kết hiệp với Chúa Kitô, và sự kết hiệp đó đưa chúng ta đến sự hiệp thông với nhau, tức là yêu thương nhau. Đúng ra phải như vậy, nhưng thực tế có được như vậy không? Có lẽ nhiều người Kitô hữu quên mất điều này: Hiệp thông với Chúa Kitô phải đưa đến sự hiệp thông với nhau.

Tóm lại, khi dâng Thánh Lễ là chúng ta cùng tham dự bàn tiệc Thánh Thể, chia sẻ Mình Máu Chúa Kitô, Đấng đã hiến cả cuộc đời mình nên của lễ tình yêu. Xin Chúa cho chúng ta một khi đã được hiệp thông với Chúa, thì cũng biết hiệp thông với nhau bằng cuộc sống yêu thương phục vụ để cùng nhau xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Amen.

 

CN MMTC HIẾN LỄ CUỘC ĐỜI

CN MMTC                                                HIẾN LỄ CUỘC ĐỜI      

Theo giáo lý của Hội Thánh “Bản chất của Bí tích Thánh Thể không chỉ là bữa ăn chung, mà còn và trước tiên là hiện tại hóa hy lễ thập giá. Thiếu giá trị hy tế, Mầu Nhiệm Thánh Thể không có ý nghĩa và chỉ có giá trị như là một buổi gặp gỡ giao hảo và huynh đệ” (BT cứu độ).

Vì thế, hôm nay chúng ta cùng nhau khơi gợi lại ý nghĩa và những giá trị thiêng liêng của thánh lễ để qua đó chúng ta sẽ tham dự Thánh Lễ một cách tích cực và sốt sắng hơn. Vậy, thánh Lễ là gì?

Thánh Lễ là diễn lại cuộc hy tế của Chúa Giêsu ngày xưa trên thập giá, là bàn tiệc Nước Trời mà chúng ta được mời gọi tham dự; là thông phần khổ nạn và phục sinh của Chúa Kitô, vì thế, khi chúng ta tham dự Thánh Lễ, là chúng ta đóng vai trò của:

– Đức Trinh Nữ Maria: Mẹ dâng lên Thiên Chúa Cha lời xin vâng trọn vẹn qua sự hiệp thông với Con yêu qúy để cứu độ trần gian. Chính Mẹ đã kết hợp đau khổ từ trái tim của mình với đau khổ máu đổ tuôn rơi của Con để mang lại mùa xuân cứu rỗi cho trần gian.

Cũng vậy, khi chúng ta đi dâng Thánh Lễ, là chúng ta đem những lao công vất vả trong ngày của mình, những khổ đau trong tâm hồn, đem những tâm tình vui tươi, lạc quan của mình, hợp với của lễ trên bàn thờ là Đức Kitô dâng lên Thiên Chúa Cha, để nhờ Đức Kitô, xin Ngài ban ơn cho chúng ta, tha tội cho chúng ta và xin ơn cứu độ cho toàn thể thế giới. Một sự hy sinh vất vả của một đời lao nhọc để đem lại nguồn sống và hạnh phúc cho mái ấm gia đình, là một lễ vật tuy không đổ máu nhưng cô quặng trong những giọt mồ hôi, những giọt nước mắt chảy ngược vào tim. Đó là một hiến tế mà bổn phận đòi hỏi chúng ta phải chu tòan. Đó là lễ vật mà hằng ngày chúng ta có thể thưa lên với Chúa: “Xin Chúa nhận lễ vật bởi tay cha để tôn vinh danh Chúa và sinh ơn ích cho toàn thể Hội thánh Người.”

– Chúng ta cũng đóng vai trò của thánh Gioan Tông đo, đã gan dạ đứng kề bên thập giá như một chứng nhân cho cái chết hiến tế của Thầy Chí Thánh Giêsu. Gioan không chạy trốn như bao môn đệ khác. Gioan không bàng quang như bao người khách qua đường, nhưng ông đứng dưới chân thập giá như muốn nói lên tấm lòng sẵn lòng cùng Thầy trải qua cuộc thương khó đau thương.

Cuộc sống của chúng ta luôn có thánh giá, thánh giá trong bổn phận, trong trách nhiệm, trong những lao nhọc của công ăn việc làm, trong những ưu tư lo lắng cho con cái, cho hạnh phúc gia đình. Đó là thánh giá mà Chúa đang cần chúng ta ôm lấy vào cuộc đời mình. Không trốn tránh thập giá, nghĩa là không lẩn trốn đau khổ, lẩn trốn trách nhiệm. Cuộc đời này ai cũng muốn an nhàn nhưng để được hưởng những tháng ngày an nhàn thì cần phải có những ngày tháng lao động cực khổ. Có gieo – có gặt. Có trồng mới có ngày hưởng nếm những thành quả của mình.

– Cuối cùng, khi tham dự thánh lễ là chúng ta thông hiệp vào Mình và Máu Thánh Chúa Kitô. Chúng ta được kết hợp nên một trong Chúa Kitô. Chúa Kitô là Đầu Hội Thánh đã dâng chính mình làm tế lễ, còn chúng ta là những chi thể trong nhiệm thể của Người, chúng ta cùng ăn một bánh, cùng uống một chén thánh là chính Mình Máu Thánh Chúa Kitô, chúng ta có cùng chịu hiến tế chính mình như Đức Kitô là Đầu của Hội thánh hay không? Liệu rằng, chúng ta có thể đứng nhìn Chúa chịu sát tế, còn mình không chịu làm gì cả, hay chỉ đứng đó như những khách bàng quang, đứng bên vệ đường nhìn xem máu Chiên Con vô tội đang đổ ra vì loài người, mà lòng mình không cảm thấy một chút hổ thẹn hay ái ngại lương tâm? Chúa Kitô vẫn đang đổ máu vì tội lỗi loài người. Giáo hội vẫn đang hiệp thông với đau khổ của Con Chiên Thiên Chúa, còn chúng ta sẽ đóng góp phần vụ gì trong việc đền tội cho thế giới và cứu độ trần gian?

Chúng ta biết rằng, trên bàn thờ tế lễ Giáo hội buộc phải có tượng Chúa chịu nạn, chính là để nhắc nhở chúng ta phải hy sinh, phải dâng hiến mình như Chúa Giêsu đã hiến dâng. Phải đóng góp phần chúng ta như Mẹ Maria đã đóng góp chính nỗi đau khổ xé nát lòng mình, hiệp thông với đau khổ của Chúa Giêsu để dâng lên Chúa Cha. Phải đóng góp phần chúng ta như Gioan đứng sát cây thập giá để nói lên tình yêu thuỷ chung sắt son với Thầy, cho dù phải cùng Thầy trải qua những cam go của đỉnh đồi Calve.

Thiết tưởng để thánh lễ thực sự mưu ích cho phần rỗi chúng ta và cho toàn thể nhân loại. Mỗi người chúng ta cũng phải biết gom góp hy sinh mỗi ngày như những hạt lúa bị nghiền nát, như trái nho ép thành chén rượu mới có của lễ để dâng trên bàn thờ. Đó chẳng phải là mồ hôi nước mắt trong lao công con người làm nên hay sao? Đó chẳng phải là những hy sinh, những chén đắng trong cuộc đời mà mỗi người chúng ta đang chấp nhận vì lòng yêu mến Chúa hay sao?

Lạy Chúa, xin nhận lấy hạt lúa chấp nhận phân huỷ, mục nát là cuộc đời chúng con. Dưới cối xay của bổn phận trong bậc sống của mình, của những thập giá đắng cay trong những thất bại, bị bỏ rơi, bị hiểu lầm,… Xin cho con được nghiền nát cho Chúa, cho dẫu tâm hồn và thân xác của con có tan nát nhưng xin cho ngọn lửa tình yêu mến làm con trở nên một tấm bánh tinh tuyền hiến dâng cho Thiên Chúa. Amen.