Thứ Ba, 3 tháng 12, 2019

CÁC BIỂU TƯỢNG VÀ Ý NGHĨA THIÊNG LIÊNG CỦA MÙA VỌNG


Các biểu tượng và ý nghĩa thiêng liêng của Mùa Vọng


Cây nến màu tím đầu tiên được thắp sáng lên vào ngày Chúa Nhật I Mùa Vọng. Màu tím tượng trưng cho thời gian chuẩn bị, ăn năn hối cải, tỉnh thức. Cây nến thứ nhất chiếu ánh sáng Hoà bình cho những tâm hồn có lòng khoan dung nhân ái.
Mùa Vọng có nhiều biểu tượng. Tại Âu Châu có tập tục văn hóa, vào Mùa Vọng họ bện đan một vòng tròn bằng cành lá cây thông còn tươi xanh, chung quanh có bốn cây nến hoặc mầu trắng hoặc mầu đỏ hoặc mầu tím tùy nơi, dựng treo trên cung thánh hay tại phòng khách ở nhà riêng. Vòng hoa cũng như những ngọn nến có những ý nghĩa thiêng liêng.

1. Vòng Hoa 

Từ thời xa xưa, vòng hoa tượng trưng cho sự chiến thắng. Hình tròn của vòng hoa nhắc nhở cho biết về tình yêu thương bất tận của Thiên Chúa dành cho nhân loại.
Những cành lá thông nhỏ được đan bện liền vào nhau nói lên ý nghĩa cùng chung hợp gắn bó lại làm nên một vòng tròn. Ý týởng này gợi nhớ lời suy niệm của Ðức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận:Chấm này nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài. Phút này nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống. Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp. Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh. Ðường hy vọng do mỗi chấm hy vọng. Ðời hy vọng do mỗi phút hy vọng.” (Ð.Hy Vọng số 978)

2. Màu Xanh của Vòng Hoa 
Vòng tròn bện bằng những cành lá thông màu xanh nói lên ý nghĩa sự sống và niềm hy vọng Thiên Chúa mang đến cho trần gian.
Màu xanh lá cây chính là màu chỉ năm phụng vụ, diễn tả niềm hy vọng trong tình yêu Thiên Chúa dành cho con người. Quanh năm, những cành lá cây thông luôn xanh tươi. Những cành lá xanh tươi cùng đan kết lại với nhau hình thành nên một vòng hoa với ý nghĩa: Thiên Chúa và Lời Mạc Khải không bao giờ thay đổi “Trời đất qua đi, nhưng những Lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu” (Lc 21, 33).

3. Các Ngọn Nến  

Có 4 cây nến thắp lên trong thời gian của Mùa Vọng. Mỗi cây nến tượng trưng cho một ngàn năm suốt dọc dài lịch sử đợi chờ Ðấng Cứu Thế.
Bốn Cây Nến Mùa Vọng loan báo sứ mạng của Chúa Giêsu xuống trần gian làm người ở giữa với loài người và cho con người.

Cây nến màu tím đầu tiên được thắp sáng lên vào ngày Chúa Nhật I Mùa Vọng. Màu tím tượng trưng cho thời gian chuẩn bị, ăn năn hối cải, tỉnh thức. Cây nến thứ nhất chiếu ánh sáng Hoà bình cho những tâm hồn có lòng khoan dung nhân ái.

Cây nến màu tím thứ hai được thắp sáng lên vào Chúa Nhật II Mùa Vọng. Ánh sáng thêm lên, giống nhý lòng mong chờ dâng cao ngày Đấng Cứu Thế hạ sinh nơi lòng người. Cây nến thứ hai mang ánh sáng Niềm Tin cho những tâm hồn khao khát tìm về với Chúa là cội nguồn của đời sống.

Chúa Nhật III Mùa Vọng. Cây nến màu hồng được thắp sáng lên cùng với hai cây nến màu tím. Màu hồng tượng trưng cho niềm vui hân hoan đợi chờ Chúa đến.

Cây nến thứ ba chiếu toả hõi ấm Tình Yêu cho những tâm hồn tìm sống tình liên đới với người khác.

Chúa Nhật IV Mùa Vọng. Cây nến thứ tư mang niềm Hy Vọng cho những tâm hồn cần niềm vui phấn khởi.

Cây nến màu trắng (thêm vào) được thắp sáng lên trong Ngày Giáng Sinh và trong suốt Mùa Giáng Sinh nhằm nhắc nhở cho chúng ta biết và ý thức hơn về ánh sáng vẹn toàn và nguyên thủy của Chúa Kitô.Trong tư cách là những người Kitô hữu, chúng ta đón nhận và đem ánh sáng đích thực của Chúa Kitô vào trong thế giới, để cùng s chia những niềm vui và ơn phúc mà chúng ta đã lãnh nhận được từ chính Ngài.


Mùa Vọng chính là mùa của Sự Đợi Chờ cùng với niềm Hy Vọng về Ánh Sáng của Chúa Kitô.

Bốn cây nến được lần lượt thắp sáng trong bốn tuần lễ muốn nói lên ý nghĩa: Nước Thiên Chúa cũng triển nở lần lượt như bốn cây nến được thắp lên cho tới ngày lễ Chúa Giêsu giáng sinh, Ðấng là ánh sáng trần gian. Ánh sáng bốn cây nến toả ra bốn phương trời đất trong công trình sáng tạo của Thiên Chúa.
Cây nến là hình ảnh Chúa Giêsu, ánh sáng trần gian (Gioan 8,12).
Khi cây nến được đốt lên cũng cắt nghĩa về hình ảnh Chúa Giêsu. Chất sáp làm nên cây nến là hình ảnh thân xác con người của Chúa Giêsu. Thân xác con người được Thiên Chúa dựng nên có khởi đầu, có phát triển, có những yếu đuối bệnh tật giới hạn và sau cùng có ngày cùng tận. Chúa Giêsu xuống trần gian làm người, sống cuộc sống hy sinh của con người như chất sáp bị cháy hao mòn thiêu huỷ.
Còn ngọn lửa đốt sáng cây nến là hình ảnh bản tính Thiên Chúa của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là Thiên Chúa và cũng là người, nên ngài có hai bản tính: Thiên Chúa và con người. Ngọn lửa đốt cháy chất sáp và tỏa ra ánh sáng hơi ấm tình yêu cho mọi người.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An, sưu tầm


Ý NGHĨA LOGO NĂM GIỚI TRẺ 2020


Ý NGHĨA LOGO NĂM GIỚI TRẺ 2020 
Nguồn mạch: Lc 24, 13-35.

Thượng Hội Đồng Giám Mục 15 đã nhìn nhận hành trình Emmau (Lc 24,13-35) như là một văn bản kiểu mẫu để hiểu sứ vụ của Hội thánh trong tương quan với các thế hệ trẻ và giúp tái hiện lại cuộc đối thoại của Đức Giêsu với người trẻ hôm nay. Kiểu mẫu này mong muốn gửi đến người trẻ bài học về sự trưởng thành đức tin thông qua tiến trình 3 bước theo diễn biến tâm lý của hai môn đệ trên hành trình Emmau đó là:

1.       Để Chúa Giêsu bước vào trong đêm tối của cuộc đời. (Tông huấn Chúa Kitô đang sống, số 237).
2.       Khi lắng nghe Người, họ cảm thấy lòng ấm lên và trí sáng ra;
3.       Khi Người bẻ bánh, mắt họ mở ra.
4.     Chính họ chọn đi trở lại ngay lập tức con đường vừa đi, để về với cộng đoàn và chia sẻ kinh nghiệm gặp gỡ Đấng Phục sinh

Logo tròn: là khối hình ưu tiên trong việc phát triển hầu hết các mẫu thiết kế logo vì tính đối xứng, biểu trưng hài hoà và mang ý nghĩa trong sự thể hiện trọn vẹn về niềm tin, hay sự thống nhất về mặt biểu tượng. Logo tròn tạo thành từ 3 khối chữ và số, thể hiện đầy đủ và tái hiện lại tiến trình 3 bước “ĐỒNG HÀNH VỚI NGƯỜI TRẺ HƯỚNG ĐẾN SỰ TRƯỞNG THÀNH TOÀN DIỆN”, “Lc 24, 13-35”, kết hợp với khối “MỤC VỤ GIỚI TRẺ 2020” tạo thành khối tròn cách điệu hình ảnh địa cầu mang ý nghĩa quy hướng về khối “Ba hình ảnh người” nổi bật ở trung tâm khối. 

- Trích dẫn“Lc 24,13-35” thể hiện trên logo nhắc nhớ người trẻ về đoạn Tin mừng diễn tả cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với hai môn đệ trên đường Emmau. Trích dẫn đơn giản đó cũng nhắc nhở người trẻ về việc sử dụng Kinh Thánh - như kim chỉ nam cho người trẻ để tìm ra ý nghĩa của cuộc đời mình
“Như hai người trẻ trên dường Emmau, các con hãy đến với Chúa Giêsu, tâm sự với Người trong cầu nguyện, lắng nghe lời Người trong Sách thảnh, đón nhận sức sống của Người trong Thánh Thể, nhờ đó biết nhìn cuộc đời với cặp mắt mới và nhận ra Chúa luôn đồng hành với các con.” (HĐGMVN,Thư Chung 2019)


- Cụm từ “ĐỒNG HÀNH VỚI NGƯỜI TRẺ HƯỚNG ĐẾN SỰ TRƯỞNG THÀNH TOÀN DIỆN” là chủ đề được HĐGM VN chọn để hướng đến, đồng hành và cầu nguyện cách riêng cho người trẻ theo tài liệu làm việc của Thượng HĐGM thế giới về người trẻ đưa ra. Chủ đề như một lời mời gọi, một xác nhận về sứ vụ mà Hội Thánh mong muốn đồng hành với người trẻ, để “Giáo Hội trở thành chỗ dựa vững chắc giúp người trẻ tin đó là nơi họ được thuộc về” (văn bản tiền HĐGM về Người trẻ (Vatican-tháng 11/2018)).

“Như hai người trẻ trên dường Emmau, các con hãy đến với cộng đoàn Giáo hội ở nơi các con đang sinh sống, học hành, làm việc. Đức tin Kitô giáo luôn mang chiều kích cộng đoàn. Các con không sống đức tin một minh, nhưng với cộng đoàn và trong cộng đoàn. Hãy tích cực tham gia các sinh hoạt của giáo xứ, hội đoàn, hoặc cộng đoàn Kitô hữu nhỏ, nhờ đó các con cảm nhận được sự nâng đỡ trong những lúc khó khăn, đồng thời học mở lòng ra trước nhu cầu của tha nhân.” ( HĐGMVN,Thư Chung 2019)



-Cụm từ “MỤC VỤ GIỚI TRẺ 2020”, tên chủ đề chính trong chuỗi 3 năm đồng hành với người trẻ trong các thánh lễ, các hoạt động, để hướng người trẻ về với ý nghĩa lớn nhất của mục vụ là Bí Tích Thánh Thể - sức mạnh và là ân sủng giúp người trẻ tìm lại niềm hạnh phúc thật, kín múc ơn bình an, và sức mạnh để bước tiếp chặng đường sứ mạng cuộc đời Chúa trao cho mỗi người trẻ.
Như hai người trẻ trên đường Emmau, các con hãy mạnh dạn kể lại cho các bạn trẻ khác về kinh nghiệm đức tin của mình, kể bằng lời và bằng chính cuộc sống tốt lành của các con. Hơn ai hết, chính các con phải là tông đồ cho người trẻ, những người cùng trang lứa, sống trong cùng một thời đại và môi trường với các con. Được như thế, các con sẽ trở thành những sứ giả loan báo Tin mừng của Chúa Kitô Phục sinh cho mọi người, đồng thời góp phần dựng xây quê hương và dân tộc Việt Nam thịnh vượng, công bằng và hạnh phúc.”
( HĐGMVN,Thư Chung 2019)


Ý nghĩa hình ảnh
  • Khối ba hình ảnh con người:
*Hình người chính giữa: là hình ảnh cách điệu Chúa Giêsu Phục Sinh trong trang phục áo thụng dài với mảnh vải hình chữ S vắt qua vai. Mảnh vải vừa thể hiện rõ nét và làm sống động hình ảnh Chúa Phục Sinh; vừa vẽ nên hình ảnh con đường khúc khuỷu - đường Emmau mà Ngài đang bước đi cùng hai môn đệ, hay nhắc nhớ cho chúng ta về đoạn Tin Mừng Ga 14,1-6 rằng “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy”. Nén trong dải vải lụa cách điệu hình chữ S, đó còn là biểu tượng đặc trưng mang bản sắc dân tộc Việt, thể hiện khao khát cách riêng của người trẻ Việt muốn ghi dấu niềm tin vào Chúa, cùng theo Chúa bước trên con đường Emmau, được Chúa đồng hành, chăm sóc và vác trên vai như con chiên lạc. 

 *Hình người hai bên phải trái: tượng trưng cho hai môn đệ trên đường Emmau. Cánh tay vươn lên cao như cách thể hiện sự vui mừng, hoan hỷ của hai môn đệ vì được Chúa Giêsu nắm giữ và đồng hành với họ trên đường Emmau. Nó cũng diễn tả sự vươn lên và trưởng thành về Đức tin của hai môn đệ sau khi được gặp gỡ Chúa.

  • Sự liền mạch của kết cấu 3 người trong logo qua cánh tay muốn diễn tả và truyền đi thông điệp về ước mong của người trẻ trong sự gắn kết với sự sống của Đức Kitô và cùng Ngài sống lại và sống mãi. Người trẻ khao khát mình được sống lại như hai môn đệ xưa kia, được Chúa đồng hành, thêm sức, ủi an để vượt qua và đứng vững trước mọi thách đố trong đời; những trở ngại phải trải qua được ví như những con đường quanh co, núi đồi trắc trở. Điều đó cũng diễn tả hành trình mà người trẻ mong muốn được Chúa hướng dẫn để được trưởng thành toàn diện trong đời sống đức tin cũng như trong đời sống thường nhật. 

  • Cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với hai môn đệ cũng diễn tả sự quan tâm, quan phòng của Chúa luôn đoái nhìn mỗi người chúng ta. Cuộc đối thoại đó cũng nhắc nhớ người trẻ về ước mong được trò chuyện với Chúa mỗi ngày, và khao khát đón nhận sự đồng hành của Giáo hội trong cuộc sống đời thường.

  • Phía trước họ là con đường khúc khuỷu - diễn tả hành trình Emmau mà họ đang đi. Và con đường đó dẫn về Thánh Giá (được đặt cao nhất trong khối logo tròn) như nhắc mỗi người chúng ta cùng bước trên con đường Ngài đã đi qua, dám dấn thân, tin tưởng vào Ánh Sáng Phục Sinh đang lan tỏa và hướng chúng ta về quê trời. 

  • Những tia sáng và thánh giá đi ra khỏi đường tròn của logo thể hiện tính siêu việt và phá vỡ những giới hạn mà sự Phục Sinh của Chúa mang đến cho người trẻ. Điều đó mang lại hy vọng rằng những giới hạn của bản thân sẽ được phá vỡ khi chúng ta tin vào Ánh Sáng Phục Sinh, tin vào sự đồng hành của Chúa trên tiến trình thăng tiến của mỗi người cách riêng là người trẻ. Sự phát triển toàn diện nhằm hướng người trẻ và mời gọi người trẻ chia sẻ khả năng, sử dụng nén vàng Chúa trao để can đảm dấn thân loan báo Tin mừng như hai môn đệ.

  • Màu sắc của logo được sử dụng dựa trên 5 màu chủ đạo mang màu sắc trẻ trung, tươi vui, diễn tả ý nghĩa niềm hy vọng của mầu nhiệm Phục Sinh.

*Sắc Cam của lửa - biểu tượng nguồn ơn Chúa Thánh Thần, của nhiệt huyết, được chọn tô cho hình ảnh Chúa Giêsu, như muốn tập trung nguồn ơn sức mạnh mà người trẻ cần tìm kiếm cho cuộc đời mình chính là Chúa Giêsu.
*Sắc Xanh Dương diễn tả sắc xanh của hy vọng, sự mong chờ niềm vui của ơn cứu độ.
*Sắc Xanh Lá mang sức sống tinh thần của người trẻ, màu sắc của sự tươi mát và tinh thần sống xanh nhắc nhớ người trẻ trong việc chung tay bảo vệ ngôi nhà chung.
*Sự hoà quyện của 3 sắc màu trên hướng tới Thánh Giá màu Đỏ- biểu tượng của tình yêu, nhắc nhớ về sự hy sinh của Chúa trên Thập Giá, về Bí tích Tình Yêu và con đường Trắng diễn tả sự Phục Sinh - con đường hướng người trẻ về quê trời trong hân hoan và vững tin vào mầu nhiệm sống lại của Chúa Giêsu.












Thứ Hai, 2 tháng 12, 2019

KINH VINH DANH TRONG THÁNH LỄ



KINH VINH DANH TRONG THÁNH L

Nhằm nhấn mạnh đến tính chất thống hối của mùa Chay,  kinh Vinh Danh không được hát trong các Chúa nhật mùa Chay, trừ ra trong dịp lễ trọng hay lễ kính. Như truyền thống đã đi vào nghi lễ Rôma trong Sách lễ tiền Công đồng Vatican II và vẫn giá trị cho đến nay, thánh lễ tiệc ly có hát kinh Vinh Danh để chỉ ra rằng mùa Chay đã kết thúc. Đang khi hát thì rung chuông (chuông [nhỏ] cung thánh và chuông [lớn] trên tháp chuông), sau đó, không rung chuông nữa cho đến kinh Vinh Danh của lễ Vọng Phục Sinh. Đang khi cộng đoàn hát kinh Vinh Danh trong lễ Vọng Phục Sinh, cũng có thể kéo chuông nếu có tục lệ này. Kinh Vinh Danh dĩ nhiên sẽ được hát tiếp trong các Chúa nhật Phục Sinh, các ngày trong tuần bát nhật Phục Sinh và các Chúa nhật thường niên nữa. Để biết thêm về kinh Vinh Danh, bài viết sau sẽ dẫn giải các khía cạnh về lịch sử, ý nghĩa và mục vụ của lời kinh này.


LỊCH SỬ
Kinh Vinh Danh trong thánh lễ - tức bài Gloria in excelsis Deo (Vinh danh thiên chúa trên các tầng trời) - được gọi là “Vinh tụng ca lớn” (= “Lời đại tán tụng”) nhằm phân biệt với “Vinh tụng ca nhỏ” là Kinh Sáng Danh (Gloria Patris).
Kinh Vinh Danh là một trong những bài hát rất cổ xưa của Giáo hội thời kỳ đầu cùng với các Kinh Pros hilarion (Ôi nguồn sáng huy hoàng) và Te Deum (Chúng con chúc tụng Chúa).
Kinh Vinh Danh được tìm thấy trong 3 phiên bản: i] Phiên bản Syria từ phụng vụ của phái Nestorius; ii] Phiên bản Hy Lạp từ sách Hiến chế Tông đồ; iii]  Phiên bản Hy Lạp từ phụng vụ Byzantin của nghi lễ Đông phương. Phiên bản sau cùng có nội dung trùng khớp hầu hết với phiên bản phương Tây.1 Kinh Vinh Danh bấy giờ không được sử dụng trong thánh lễ mà là lời kinh chúc tụng ngợi khen được sử dụng như một bài thánh ca Rạng đông Phục sinh và dần dần thuộc thành phần kết thúc của Kinh Sáng như trong nghi lễ bên phương Đông. Bên Tây phương cũng vậy, chẳng hạn tại các tu viện vùng Ái Nhĩ Lan và Pháp, kinh Vinh Danh hồi đầu không nằm trong thánh lễ.2
Bài ca này xuất hiện sớm nhất vào thế kỷ thứ IV, nhưng chỉ được đưa vào thánh lễ Rôma vào đầu thế kỷ thứ V dưới thời của Đức Lêô Cả (400-461), lúc đó người ta chỉ hát kinh Vinh Danh trong thánh lễ nửa đêm Giáng Sinh vì là bài ca các thiên thần hát tại Bêlem trong đêm Chúa xuống thế làm người (Lc 2,13-14).3 Thật ra trước đó, ĐGH Telesphorus (128- 139?) đã ra lệnh phải hát kinh Vinh Danh trong thánh lễ Giáng Sinh lúc nửa đêm.4

Sau đó, đến đời Đức Giáo Hoàng Synmaque (498-514), kế vị Đức Gelasio, kinh Vinh Danh mới được quyết định cho hát giữa phần kinh Nhập lễ (Introit) và kinh Thương Xót (Kyrie) trong tất cả các thánh lễ Chúa nhật và lễ kính các thánh tuẫn đạo khi do một vị giám mục cử hành.5
Sau cùng kinh Vinh Danh được dành cho cả lễ các thánh giáo hoàng, rồi đến các thánh giám mục.6 Căn cứ vào cuốn Sacramentarium Gregorianum, đặc quyền này của Đức Giám mục tồn tại trong một thời gian khá lâu bởi vì cho đến thế kỷ VII, một linh mục thường chỉ được phép hát kinh Vinh Danh mỗi năm một lần vào lễ Phục Sinh (đêm Canh thức Vượt qua) và trong dịp thụ phong linh mục khi ngài được rước vào nhà thờ họ để cử hành thánh lễ mở tay (theo nghi thức của St. Amand). Dần dần về sau, khoảng cuối thế kỷ XI, kinh Vinh Danh mới trở nên phổ biến và mọi linh mục cũng được quyền bắt hát như Đức Giám mục trong tất cả những ngày lễ Chúa nhật và lễ mừng có tính chất long trọng trừ ra trong mùa Vọng và mùa Chay.7
Kinh Vinh Danh vốn là một trong số vài bài nằm trong cuốn Ordo Missae La-tinh được phổ biến hết sức rộng rãi từ thời Carolingian (751 - ...) ngay cả bên ngoài thánh lễ. Bằng chứng là khi hoàng đế Charlemagne dẫn Đức Lêô III vào trong tòa nhà nghị viện của đế quốc tại Paderborn (năm 799), mọi người đã hát kinh Vinh Danh.8
Tới cuối thế kỷ thứ VIII, kể như nghi thức mở đầu của thánh lễ gồm: ca nhập lễ, làm nổi bật tinh thần ngày lễ; kinh Thương Xót (Kyrie); kinh Vinh Danh (Gloria); và lời nguyện nhập lễ. Theo Jungmann, đến thế kỷ IX, luật chữ đỏ đòi buộc vị giám mục chủ tế phải đối diện với dân chúng trong khi cất tiếng hát kinh Vinh Danh, nghĩa là từ ban đầu kinh Vinh Danh hẳn là được hát bởi toàn thể cộng đồng.9 Giống như kinh Thương xót, từ lúc khởi đầu, kinh Vinh Danh là một bài hát mang tính cộng đồng. Nhưng sau đó, kinh Vinh Danh được người ta thêu dệt thêm bằng những giai điệu âm nhạc hoa mỹ và phức tạp khiến cho nó trở thành bài hát của riêng ca đoàn.
Cấu trúc của nghi thức mở đầu Thánh lễ (= ca nhập lễ + kinh Thương xót (Kyrie) + kinh Vinh Danh (Gloria) + lời Tổng nguyện) đã được Sách lễ Rôma của Đức Phaolô VI (1969/1970) lấy lại từ phụng vụ thế kỷ VIII, tuy nhiên thêm vào đó nghi thức sám hối mặc dầu nghi thức này mãi thế kỷ IX mới có.
Tập tục như chúng ta thấy hiện nay, coi như đã thành hình từ thế kỷ XI, nghĩa là kinh Vinh Danh được hát vào tất cả những Chúa nhật và những ngày lễ kính, lễ trọng, ngoại trừ những ngày thống hối trong toàn Giáo hội Tây phương.10


Ý NGHĨA11
Kinh Vinh Danh là một thánh thi chúc tụng và khẩn nài hướng lên Chúa Cha và Đức Kitô (Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma = QCSL, số 43). Toàn bản văn chia làm 3 phần: i] Đoạn mở đầu; ii] Đoạn hướng về Chúa Cha; iii] Đoạn hướng về Đức Kitô.

A. Đoạn mở đầu: Lời ca thiên thần trong đêm Chúa Giáng Sinh
Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời,/ và bình an dưới thế cho loài người Chúa thương  (cho người thiện tâm).
Lời này được tổng hợp từ nhiều bản văn Thánh Kinh, đặc biệt từ lời ca ngợi do các thiên thần hát lên trong đêm Chúa Giáng Sinh tại Bêlem (x. Lc 2,13-14). Vì vậy, nó còn có tên gọi là Thánh ca Thiên Thần (x. Ga 1,29; Tv 109, 1; Cv 2,34-36).12
Khi thiên thần hát “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời” trong đêm Chúa Giáng Sinh tại Bêlem, chúng ta hiểu ngay rằng đây là những lời nhằm ca tụng vinh quang và lòng nhân hậu của Thiên Chúa Cha - Đấng đang ngự trên trời - chứ không nhắm đến Chúa Giêsu và câu này trở thành như một lời loan báo vui mừng về vòng tay ôm ấp giữa trời và đất. Chính Chúa Cha đã thực hiện ơn cứu chuộc cách tỏ tường qua mầu nhiệm nhập thể và chương trình này, tức “Ca tụng tôn vinh danh Thiên Chúa và ơn cứu rỗi cho nhân loại” chưa “đạt tới” sự trọn vẹn cho đến khi Chúa Giêsu chịu nạn chịu chết trên thập giá làm hy tế dâng lên Chúa Cha; chương trình này vẫn đang hiện thực mỗi khi Hội Thánh quy tụ nhau để cử hành Thánh Thể và cất lên lời ca này.13
Mệnh đề “cho người thiện tâm” là dịch sát theo bản Latinh “homminibus bonae voluntaris” được rút từ bản Vulgata (Lc 2,14) mà bonae voluntaris chỉ được dịch lại từ chữ êuđôkia của nguyên bản Hy Lạp. Trong Thánh Kinh, hai từ êuđôkia và êuđôkêin nói lên đặc ân hay lòng tốt của Thiên Chúa dành cho kẻ được Ngài tuyển chọn. Cho nên anthropôi êuđôkia dịch là những người được Thiên Chúa yêu thương giáng phúc (loài người Chúa thương) thì thích hợp hơn cho “người thiện tâm”, nghĩa là Thiên Chúa không chỉ giới hạn ban bình an cho người có thiện tâm mà cho tất cả những ai đẹp lòng Người. Ở đây cũng có thể hiểu là ơn cứu độ của Chúa không chỉ dành riêng cho nhúm người có thiện tâm hay dành riêng cho người Do Thái, mà cho tất cả mọi người.14 Nói cách khác, bình an chính thức và siêu nhiên không thể do tự thiện tâm con người mà có, nhưng phải nhờ tình thương Thiên Chúa ban tặng.15

B. Đoạn thứ II: Lời tôn vinh Thiên Chúa
Chúng con ca ngợi Chúa, chúng con chúc tụng Chúa (Br 3,6; Tv 145,2),/ chúng con thờ lạy Chúa, chúng con tôn vinh Chúa (Kh 4,11; Rm 11,36; 1Cr 6,20),/ chúng con cảm tạ Chúa vì vinh quang cao cả Chúa (1Bns 16,24; 2Cr 4,15)./ Lạy Chúa là Thiên Chúa, là Vua trên trời (Kh 4,8; Tb 13,7; Dn 4,37),/ là Chúa Cha toàn năng (St 17,1-2; 2Cr 6,18).
Tiếp nối chủ đề lời ca của các thiên thần, đoạn này diễn tả sự nối kết giữa trời và đất trong những lời ngợi khen chúc tụng Thiên Chúa qua 5 động từ tuôn ra một mạch theo thể thức tôn thờ của các thánh thi cổ xưa. Năm động từ này là: ca ngợi; chúc tụng; thờ lạy; tôn vinh; và cảm tạ Chúa được vang lên như những làn sóng đại dương không ngớt trào dâng mà đỉnh cao là “chúng con cảm tạ Chúa vì vinh quang cao cả Chúa”.16 Kiểu tung hô chúc tụng như thế đã tồn tại trong phụng vụ từ rất xa xưa, là một thói tục diễn ra trong buổi phụng tự công cộng dành cho các hoàng đế, nhưng sau đã được tu chỉnh, được “rửa tội” để dùng trong Giáo hội.17
Đoạn này tiếp tục nhấn mạnh đến vinh quang của Thiên Chúa được biểu lộ bằng ngôn từ hay trưng ra một chuỗi danh hiệu: Ngài là Thiên Chúa (Deus), là Vua trên trời (Rex caelestis), đặc biệt Ngài là Cha toàn năng (Pater omnipotens), một cụm từ đã có trong kinh Tin Kính các Tông đồ (Symbolum apostolicum), thường xuất hiện trong các thánh thi cổ cũng như Thánh Thi Te Deum. Vì vậy, loài người phải bày tỏ thái độ “chúc tụng, thờ lạy, tôn vinh và cảm tạ” dành cho Ngài.18

C. Đoạn thứ III: Lời kêu cầu Đức Giêsu
Lạy Con Một Thiên Chúa, Chúa Giêsu Kitô (Ga 1,14. 18),/ Lạy Chúa là Thiên Chúa, là Chiên Thiên Chúa / là Con Ðức Chúa Cha (Kh 1,8; Ga 1,29). Chúa xóa tội trần gian, xin thương xót chúng con (Ga 1,29); Chúa xóa tội trần gian, xin nhậm lời chúng con cầu khẩn (Ga 14,13). Chúa ngự bên hữu Ðức Chúa Cha  (Cl 3,1; Dt 8,1), xin thương xót chúng con. Vì, lạy Chúa Giêsu Kitô, chỉ có Chúa là Ðấng Thánh (Kh 15,4), chỉ có Chúa là Chúa (Is 37,20), chỉ có Chúa là Ðấng Tối Cao (Tv 83,18), cùng Ðức Chúa Thánh Thần ( Rm 8,9; 1Pr 3,8) trong vinh quang Ðức Chúa Cha (Lc 9,26; Ga 1,14; Pl 2,11).
Trước hết, đoạn này quy hướng về Chúa Kitô với những danh hiệu chính của Ngài là: Chủ Tể (Dominus); Thiên Chúa (Deus); Chiên Thiên Chúa (Agnus Dei); Con Chúa Cha (Filius Patris). Nghĩa là Chúa Kitô vừa là Thiên Chúa uy quyền, đồng bản thể với Chúa Cha, vừa là Đấng Cứu Chuộc nhân loại (Chiên hy tế là tước hiệu quy về công trình cứu độ của Đức Kitô). Chính Đức Giêsu, Con Thiên Chúa (Filius Patris) mới là phản ánh trung thực vinh quang của Thiên Chúa Cha tại trần gian (Dt 1,3).19
Bài ca sau đó chuyển sang ca tụng Chúa Giêsu nhưng dưới dạng khẩn cầu với ba lời van nài như trong các kinh cầu, trong đó, Hội Thánh không những nhắc nhớ công trình cứu độ Chúa Kitô đã chết trên thập giá để xóa tội trần gian mà còn nhìn ngắm Ngài đang khải hoàn ngự bên hữu Đức Chúa Cha.
Tiếp đó, Hội Thánh xưng tụng Đức Kitô với ba danh hiệu: Đấng Thánh (Sanctus); Chủ Tể (Dominus); Đấng Tối Cao (Altissimus) vốn đã từng nằm trong các công thức tuyên xưng đức tin thời kỳ đầu Kitô giáo: nghĩa là, các tín hữu không những tuyên xưng thiên tính của Đức Kitô mà còn muốn khẳng định bằng cả mạng sống mình là họ chỉ tôn thờ một mình Người là Đấng Thánh, thuộc về thượng giới, là Kyrios theo tinh thần của 1Cr 8,6 và Pl 2,11; còn các tà thần đều là thọ tạo phàm tục vì thuộc về trần thế. Chỉ có thể hiểu những điểm này khi biết bối cảnh lịch sử ra đời của kinh Vinh Danh: đây là thời kỳ thần dân phải tôn thờ hoàng đế; thời kỳ của những lễ hội huy hoàng với những buổi thờ cúng các thần minh vốn bao gồm cả những cuộc hiến tế công cộng; các Kitô cũng bị lôi kéo và bị ép buộc phải tôn thờ hoàng đế và dâng hương cho các thần minh, nhưng họ đã cương quyết từ chối mà chỉ tuyên xưng và tôn thờ một mình Đức Kitô với danh hiệu Kyrios. Hành động này khiến họ bị nghi ngờ là đe dọa cho an ninh công cộng, là kẻ thù của thần minh và đất nước, nên đã thường xuyên bị bách hại và phải trả giá bằng cả tính mạng của mình.20
Phần cuối, kinh Vinh Danh kết thúc với lời tôn vinh Đức Kitô, Chúa Thánh Thần và Chúa Cha vì cả Ba Ngôi đều chung nhau một vinh quang. Chính vì vậy bài ca này có tên là Gloria (Vinh danh) và bên phụng vụ Đông phương đặt tên là Vinh tụng ca lớn (doxologia major) đối lại với những Vinh tụng ca “ngắn”/ “nhỏ” (Gloria Patris) như kinh “Sáng danh Đức Chúa Cha và...” . Vinh tụng ca kết thúc kinh Vinh danh: “Lạy Chúa Giêsu Kitô, chỉ có Chúa là Ðấng Thánh, chỉ có Chúa là Chúa, chỉ có Chúa là Ðấng Tối Cao, cùng Ðức Chúa Thánh Thần trong vinh quang Ðức Chúa Cha” xem ra cũng gần gần tương tự như Vinh tụng ca trong lễ quy của phụng vụ thánh Gioan Kim Khẩu bởi vì sau khi tư tế cao rao: “Của thánh dành cho dân thánh!” khi ngài đang giơ cao Mình Máu Thánh, ca đoàn sẽ đáp lại rằng: “Lạy Chúa Giêsu Kitô, chỉ có Chúa là Ðấng Thánh, chỉ có Chúa là Chúa, hướng đến vinh quang Ðức Chúa Cha”.21

THỰC HÀNH
Không được thay đổi bản văn của kinh này bằng một bản văn khác (QCSL 53).
Vị tư tế hay, tùy nghi, một ca viên hay ca đoàn xướng lên, rồi mọi người cùng hát chung, hay luân phiên giữa giáo dân và ca đoàn, hay chỉ ca đoàn. Nếu không hát thì phải đọc, hoặc mọi người đọc chung, hoặc chia hai bè đối đáp (QCSL 53).
Dù có thể hát hay đọc kinh Vinh Danh (x. QCSL 53; 126 / Nghi thức Thánh lễ, số 8) nhưng phải cố gắng để bảo đảm kinh Vinh Danh được hát luôn luôn, ngoại trừ vì những lý do mục vụ, bởi đây là một bài thánh ca mang tính lễ hội và là bài thi ca tự bản chất; Cũng đừng bao giờ hát kinh Thương Xót rồi lại chỉ đọc kinh Vinh Danh.22Joseph Gelineau đã nhận định rằng: “Đọc kinh Vinh Danh để rút ngắn thời giờ là một giải pháp lai căng mà công cuộc canh tân đã sửa chữa”.23
Được hát hay đọc trong các Chúa nhật ngoài mùa Vọng và mùa Chay, trong các lễ trọng và lễ kính, và trong các dịp lễ khá long trọng (QCSL 53).
Nên sử dụng bản hát mà mọi người trong cộng đoàn đều thuộc để việc ca hát mang tính cộng đồng và mang lại một nét đặc sắc cho buổi cử hành.
Nhớ cúi đầu khi đọc danh Ba Ngôi Thiên Chúa ở phần cuối và danh thánh Giêsu ở phần giữa của kinh Vinh Danh (x. QCSL 275a).

 Lm. Giuse Phạm Ðình Ái, dòng Thánh Thể, SSS

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2019

10 ĐIỀU BẠN CẦN BIẾT VỀ MÙA VỌNG


10 ĐIU BN CN BIT V MÙA VNG

Hầu hết trong chúng ta có một sự hiểu biết trực quan về Mùa Vọng dựa trên kinh nghiệm, nhưng những văn kiện chính thức của Giáo Hội thực sự nói gì về Mùa Vọng?
Dưới đây là một số câu hỏi cơ bản và những hồi đáp (chính thức!) về Mùa Vọng.
Một số trong đó thật bất ngờ!

1. Mục đích của mùa Vọng là gì?
Mùa Vọng là một mùa trong niên lịch phụng vụ của Giáo Hội – chính xác hơn, thuộc niên lịch của Giáo Hội Latinh, là Giáo Hội lớn nhất hiệp thông với Đức Giáo Hoàng.
Những Giáo Hội Công giáo khác – cũng như nhiều Giáo hội không phải Công giáo — có tổ chức Mùa Vọng nhưng theo cách thức riêng của họ.
Theo những quy luật chung của năm phụng vụ và niên lịch, Mùa Vọng có một đặc tính với hai khía cạnh:
- Là một mùa để chuẩn bị cho Giáng Sinh khi chúng ta tưởng niệm việc Đức Kitô đến lần thứ nhất.
- Như là một Mùa mà việc nhớ lại ấy hướng tâm trí của chúng ta tới sự chờ đợi cho lần trở lại của Đức Kitô trong ngày sau hết.
Do đó, Mùa Vọng là một thời kỳ sốt sắng và mong đợi trong hân hoan. (quy luật 39)
Chúng ta thường nghĩ về Mùa Vọng chỉ như là một mùa chuẩn bị cho Giáng sinh hay tưởng nhớ việc Đức Kitô đến lần thứ nhất, nhưng như những quy luật tổng quát chỉ ra, thật quan trọng để nhắc nhớ rằng Mùa Vọng còn là dịp để chúng ta hướng tới sự trở lại của Đức Kitô. Cho nên, có thể nói Mùa Vọng đưa tâm trí chúng ta hướng về hai lần đến thế gian của Đức Kitô.

2. Những màu phụng vụ nào được sử dụng trong mùa Vọng?
Những ngày đặc biệt và những nghi thức cử hành nào đó có thể có những màu riêng (thí dụ, màu đỏ dành cho lễ kính các thánh tử đạo, màu đen hay trắng vào dịp lễ an táng), nhưng màu thông thường của Mùa Vọng là tím. Hướng dẫn Tổng quát trong sách lễ Roma đưa ra: Màu tím hay đỏ tía được sử dụng trong Mùa Vọng và Mùa Chay. Các màu này cũng có thể được mặc trong những nghi thức và Thánh lễ an táng (346).
Ở nhiều nơi, có một ngoại lệ đáng chú ý cho Chúa Nhật thứ ba Mùa Vọng, được biết tới như là “Chúa Nhật vui” (Gaudete) : Màu hồng có thể được sử dụng trong ngày Chúa Nhật vui và Chúa Nhật thứ ba Mùa Chay (Laetare). (GIRM 346f).

3. Phải chăng Mùa Vọng là mùa thống hối?
Chúng ta thường nghĩ về Mùa Vọng như là mùa thống hối bởi vì màu tím trong phụng vụ, giống như màu của mùa Chay – màu dành cho mùa sám hối.
Tuy nhiên, sự thực là Mùa Vọng không phải là mùa thống hối. Thật ngạc nhiên!
Theo điều khoản của Giáo Luật: số 1250: những ngày và những lần sám hối trong Giáo Hội hoàn vũ là mọi thứ sáu trong cả năm và cả mùa Chay. 
Mặc dầu các đấng bản quyền địa phương có thể thiết lập thêm những ngày sám hối, song, trên đây đã là một danh sách đầy đủ của những ngày và những lần thống hối trong Giáo Hội Latinh cũng như toàn thể Giáo Hội, và Mùa Vọng không phải là một trong số đó.

4. Mùa Vọng bắt đầu và kết thúc khi nào?
Theo những quy luật tổng quát: Mùa Vọng bắt đầu với giờ Kinh Chiều I của Chúa Nhật ngày hoặc gần ngày 30/11 nhất; Mùa Vọng sẽ kết thúc vào trước giờ Kinh Chiều I của lễ Giáng Sinh (số 40).
Chúa Nhật đúng vào hay gần với ngày 30.11 nhất có thể trong khoảng 27.11 – 3.12, tùy theo năm.
Trong trường hợp một Chúa Nhật, giờ Kinh Chiều I được xem như vào Kinh Chiều I trước đó (thứ 7). Theo hướng dẫn tổng quát của các giờ kinh phụng vụ: Được cử hành ngay trước Thánh lễ, giờ Kinh Chiều được gộp vào cùng một cách thức như Kinh Sáng. Giờ Kinh Chiều I của những lễ trọng, các Chúa Nhật hay lễ kính Chúa rơi vào ngày Chúa Nhật có thể không được cử hành cho tới sau Thánh lễ của ngày hôm trước hay thứ bảy.
Điều này có nghĩa rằng, Mùa Vọng bắt đầu vào buổi chiều của thứ 7 giữa 26/11 – 2/12; kết thúc vào chiều ngày 24.12, lúc cử hành Kinh Chiều I lễ Giáng Sinh (25/12).

5. Vai trò của các Chúa Nhật trong Mùa Vọng?
Có 4 Chúa Nhật trong Mùa Vọng. Các quy luật tổng quát tuyên bố: Các Chúa Nhật của mùa này được gọi là Chúa Nhật thứ nhất, thứ Hai, thứ Ba và thứ Tư của Mùa Vọng (số 41)
Chúng ta đã đề cập trước đó về Chúa Nhật thứ ba có tên đặc biệt là Gaudete – từ Latinh có nghĩa là “niềm vui” là từ đầu tiên trong ca nhập lễ của Thánh lễ trong ngày này.
Giáo Hội gán cho các Chúa Nhật này có tầm quan trọng đặc biệt, những ngày ưu tiên hơn tất cả những cử hành phụng vụ khác. Vì thế, các quy luật tổng quát tuyên bố: bởi vì tầm quan trọng đặc biệt của ngày này, cử hành Chúa Nhật chỉ dành cho lễ trọng hay lễ kính Chúa. Các Chúa nhật của Mùa Vọng, Mùa Chay và Phục Sinh được ưu tiên trên tất cả các lễ trọng và lễ kính Chúa. Các dịp lễ trên nếu rơi vào những Chúa Nhật này sẽ được cử hành trong các ngày thứ 7 trước đó (số 5).

6. Những gì diễn ra với các ngày trong tuần?
Các bài giảng dành cho các ngày trong tuần của Mùa Vọng được khuyến khích đặc biệt. Quy luật tổng quát cũng chỉ ra vai trò đặc biệt các ngày trong tuần của tuần lễ trước Giáng sinh: các ngày trong tuần từ 17-24/12 hướng tới việc phục vụ chuẩn bị trực tiếp hơn dành cho sinh nhật của Đức Kitô. (số 41).
Vai trò đặc biệt ấy được minh chứng trong các bài đọc Kinh Thánh được sử dụng trong phụng vụ trong những ngày này.

7. Các nhà thờ được trang hoàng như thế nào trong suốt Mùa Vọng?
Trong suốt Mùa Vọng, việc trang trí hoa cho bàn thờ nên được lưu tâm bởi một sự vừa phải phù hợp với đặc tính của thời kỳ này trong năm, không diễn tả trước niềm vui Chúa Giáng sinh. (x GIRM 313).

8. Âm nhạc được sử dụng như thế nào trong suốt Mùa Vọng?
Trong suốt Mùa Vọng, việc sử dụng đàn organ và những nhạc cụ khác nên được lưu tâm bởi một sự vừa phải phù hợp với đặc tính của thời kỳ này trong năm, không diễn tả trước niềm vui Chúa Giáng sinh. . (x GIRM 313).

9. Kinh Vinh danh có được đọc hay hát trong suốt Mùa Vọng không?
Kinh Vinh danh không được đọc hay hát trong dịp này.

10. Những việc đạo đức riêng nào chúng ta nên thực hiện để trở nên thiết thân với Thiên Chúa hơn trong suốt Mùa Vọng?
Có nhiều việc đạo đức khác nhau mà Giáo Hội đã chấp nhận cho sử dụng trong suốt Mùa Vọng. Phổ biến hơn cả là Vòng hoa mùa Vọng.

Tác giả: Jimmy Akin
Chuyển ngữ: Joseph Trần Ngọc Huynh, S.J.
Nguồn: http://www.ncregister.com/blog/jimmy-akin/10-things-you-need-to-know-about-advent



Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2019

XÉT MÌNH MÙA VỌNG : TỈNH THỨC TRƯỚC NHIỀU LỐI SỐNG NGUY HIỂM



Xét mình Mùa Vọng Tỉnh thức trước nhiếu lối sống nguy hiểm

30 Tháng Mười Một, 2019

Để sống niềm hy vọng vào Thiên Chúa và gieo niềm hy vọng cho mọi người, đòi tôi phải luôn tỉnh thức trước cuộc sống của mình. Khi xét mình trong Mùa Vọng, tôi thấy mình có khi tỉnh mà không thức, có lúc thức mà không tỉnh; hoặc tỉnh thức về những điều này nhưng lại mê muội về những điều kia… Do đó, có thể tôi đang rơi vào nhiều lối sống nguy hiểm:

– Nguy hiểm cơ bản là lối sống không trưởng thành về nhân bản.
– Nguy hiểm đáng sợ là lối sống không trưởng thành về tâm linh.
– Nguy hiểm thường xuyên là lối sống không trưởng thành về tri thức.


I. Nguy hiểm cơ bản là lối sống không trưởng thành về nhân bản

1. Quá chú trọng đến bản thân mình mà ít quan tâm đến tha nhân.
2. Coi trọng việc riêng mà coi nhẹ việc chung.
3. Chỉ làm những điều mình muốn làm mà không làm những điều mình phải làm.
4. Đòi hỏi người khác mà không hề đòi hỏi mình.
5. Góp phần xây dựng thì ít mà chê bai phê phán thì nhiều.
6. Ham quyền hành chức vụ mà không khiêm tốn phục vụ.
7. Phục vụ theo ý mình mà không theo nhu cầu của người khác.
8. Ưa chuộng và quí mến người này nhưng ghét bỏ và khinh thường người kia.
9. Cởi mở và vui vẻ với anh em này nhưng đóng kín và lạnh lùng với anh em khác.
10. Đặt nặng công việc mà coi nhẹ con người. (lấy con người làm phương tiện)
11. Đặt nặng hiệu năng mà coi thường tính cách và ý hướng. (bệnh thành tích)
12. Đòi hỏi có tự do mà không có khả năng sống tự chủ.
13. Khôn nhưng không ngoan, thẳng nhưng không khéo.
14. Phán đoán bên ngoài mà không tìm hiểu bên trong. (nông cạn, hình thức)
15. Đánh giá mình và người khác dựa vào công việc, mà không dựa vào phẩm cách.
16. Biết lỗi mà không nhận lỗi; nhận lỗi mà không sửa lỗi. (cố chấp)
17. Làm theo những gì mình nghĩ, mà không nghĩ về những gì mình làm.
18. Nhiệt thành mà thiếu khôn ngoan. (chủ quan, nhẹ dạ)
19. Ham nghe người khác tâng bốc mà không muốn nghe sự thật. (tự lừa dối mình)
20. Muốn mọi người phải giúp mình nhưng mình chẳng giúp ai. (ích kỷ)


II. Nguy hiểm đáng sợ là lối sống không trưởng thành về tâm linh

1. Đặt nặng hình thức, tổ chức bề ngoài, mà coi thường nội dung và đời sống bên trong.
2. Ưu tiên cho các phương tiện vật chất, còn ơn thánh thì lại chẳng quan tâm.
3. Lao mình vào sự hiếu động ồn ào, còn nội tâm thì lạnh lùng, trống vắng.
4. Đặt nặng việc hưởng thụ, coi thường việc khổ chế.
5. Bám vào những công việc của Chúa, còn chính Chúa thì phớt lờ.
6. Lo được lòng mọi người mà không lo được lòng Chúa.
7. Chuyên chăm việc đời mà lười biếng việc đạo.
8. Phản ứng tự nhiên mà thiếu tinh thần siêu nhiên
9. Lo bồi dưỡng thân xác mà không lo bồi dưỡng tâm hồn.
10. Sống bác ái mà thiếu chân thật, sống chân thật mà thiếu bác ái.
11. Làm việc vì danh thơm tiếng tốt hơn là vì lòng yêu mến.
12. Tìm cách thay đổi mọi người mà không thay đổi chính mình.
13. Lo xây đắp tương lai mà không sống trọn giây phút hiện tại.
14. Muốn thành quả mà không muốn hy sinh.
15. Thực thi bác ái mà lại không sống công bằng.
16. Yêu mến Chúa mà không yêu mến anh em.
17. Theo đuổi ơn gọi mà không sống ơn gọi: lo tiến thân mà không hiến thân.
18. Nỗ lực sống trung thành nhưng lại thiếu trung thực.
19. Cầu nguyện một đàng, sống một nẻo.
20. Nhiều thiện chí mà không có hành động.


III. Nguy hiểm thường xuyên là lối sống không trưởng thành về tri thức

1. Biết nhiều thứ mà không biết mình.
2. Biết thì nhiều mà sống không bao nhiêu.
3. Biết chẳng bao nhiêu mà tự kiêu tự mãn.
4. Trí thức uyên thâm mà lại thiếu đức độ.
5. Chỉ đạt lý mà không thấu tình.
6. Làm việc mà không xem tình hình, không xét hậu quả.
7. Thông minh tài trí nhưng lại sống ích kỷ, hẹp hòi.
8. Học nhiều, đọc nhiều mà thiếu suy tư nghiền ngẫm.
9. Chỉ nghe biết mà không truy tìm, tra cứu, điều nghiên.
10. Nhai lại tư tưởng người khác mà không khai sáng tư tưởng mình.
11. Chỉ dựa vào sách vở và lý thuyết mà không có kinh nghiệm thực tế.
12. Thấy chi tiết mà không thấy tổng quát.
13. Muốn động tay động chân mà không muốn động não.
14. Hiểu biết nhiều nhưng không biết điều chính yếu.
15. Hiểu biết nhiều nhưng không sát, không sâu.
16. Hiểu biết mau nhưng không nguồn, không ngọn.
17. Hiểu biết nhiều mà không biết những điều mình phải biết.
18. Hiểu biết nhiều mà không biết những điều mình không được phép biết.
19. Hiểu biết nhiều mà không biết sống yêu thương.
20. Hiểu biết sâu xa về nhiều thứ nhưng lại hiểu biết cạn cợt về Thiên Chúa.


Những lối sống trên đây luôn nằm trong tình trạng nguy hiểm. Nhưng hiểm nguy lớn nhất là tôi không nhận ra mình đang trong tình trạng nguy hiểm. Sống tỉnh thức là nhận thấy nguy hiểm do sự thiếu quân bình và cân đối trong đời sống mình về mọi mặt. Chỉ một chút quá đà sẽ gây ra hư hại khó lường. Chỉ một chút hụt hẫng sẽ rơi vào cảnh trống vắng nội tâm, dễ bị ma quỷ khống chế và thống trị.

Thật vậy, “Quỷ thấy nhà bỏ trống, lại được quét tước trang hoàng hẳn hoi. Nó liền đi kéo thêm bảy thần khác dữ hơn nó, và chúng vào ở đó. Rốt cuộc tình trạng của người ấy còn tệ hơn trước” (Mt 12,44-45).

Lm. Thái Nguyên